Đang có một cuộc tranh luận về nơi tốt nhất để cho ra đời các khung công tác ứng dụng Web: các tháp ngà — ở đó các nhà trí thức hói đầu thảo luận — hay đối lại là thế giới thực, nơi mà các khung công tác được sinh ra từ những thử thách gắt gao của nhu cầu cấp bách. Về trực giác hình như là những thử thách thử thách gắt gao của nhu cầu cấp bách thắng thế hơn các nhà trí thức đầu hói và tôi cũng cho rằng trực giác sẽ đứng vững khi xem xét kỹ hơn.
JSF 1 đã được phát triển trong một tháp ngà và người ta cho rằng các kết quả không được ngoạn mục cho lắm. Nhưng JSF làm được một điều tốt — nó làm xuất hiện một thị trường với nhiều đổi mới trong thế giới thực. Rất sớm, Facelets đã bắt đầu như là một sự thay thế mạnh mẽ cho JavaServer Pages (JSP). Sau đó, đã xuất hiện Rich Faces, một thư viện Ajax JSF thú vị; ICEFaces, một cách tiếp cận mới lạ cho Ajax với JSF; Seam; Spring Faces; các thành phần Woodstock; JSF Templating (tạo khuôn mẫu JSF); v.v. Tất cả các dự án JSF mã nguồn mở đó được xây dựng bởi các nhà phát triển, những người cần đến các chức năng mà họ đã triển khai thực hiện.
Nhóm chuyên gia JSF 2.0 (JSF 2.0 Expert Group) về cơ bản đã tiêu chuẩn hóa một số đặc tính tốt nhất từ những dự án mã nguồn mở đó. Mặc dù JSF 2 thực sự đã được một nhóm trí thức hói đầu vạch ra, nó cũng được dẫn dắt bởi các đổi mới trong thế giới thực. Ngẫm lại, công việc của nhóm chuyên gia tương đối dễ dàng vì chúng ta đã đang đứng trên vai của những người khổng lồ như Gavin King (Seam), Alexandr Smirnov (Rich Faces), Ted Goddard (ICEFaces) và Ken Paulson (JSF Templating). Thực vậy, tất cả những người khổng lồ đó đã ở trong nhóm chuyên gia JSF 2. Vì vậy trong nhiều khía cạnh, JSF 2 đã kết hợp các khía cạnh tốt nhất của tháp ngà và thế giới thực. Và điều ấy được chứng tỏ. JSF 2 là một cải tiến hơn nhiều so với nguyên bản của nó.
Đây là bài đầu tiên trong một loạt bài ba phần có hai mục tiêu: chỉ ra cho bạn các đặc tính thú vị của JSF 2 và cho bạn thấy cách sử dụng tốt nhất các đặc tính đó, sao cho bạn có thể tận dụng lợi thế của những gì mà JSF 2 cung cấp. Tôi sẽ cắt ngang qua hai mối quan tâm đó bằng cách minh họa việc sử dụng JSF 2 với một số lời khuyên để sử dụng tốt nhất JSF. Dưới đây là những lời khuyên cho bài này:
- Lời khuyên 1: Hãy từ bỏ cấu hình XML.
- Lời khuyên 2: Hãy đơn giản hóa việc dẫn hướng.
- Lời khuyên 3: Hãy sử dụng Groovy.
- Lời khuyên 4: Hãy tận dụng lợi thế trong xử lý tài nguyên,
Tuy nhiên, trước hết tôi sẽ giới thiệu ứng dụng ví dụ mà tôi sử dụng trong suốt loạt bài này. Mã nguồn ứng dụng cho bài này vẫn có sẵn để tải về.
Ví dụ trộn (mashup) các dịch vụ Web dựa trên bản đồ bắt buộc
Hình 1 cho thấy một ứng dụng trộn JSF — Tôi sẽ gọi nó là ứng dụng các địa điểm — có sử dụng các dịch vụ Web của Yahoo! để chuyển đổi các địa chỉ vào trong các bản đồ có các mức phóng to (zoom) và các dự báo thời tiết:
Hình 1. Xem bản đồ và thông tin thời tiết từ Các dịch vụ Web của Yahoo!
Để tạo một địa điểm, bạn điền vào biểu mẫu địa chỉ, kích hoạt nút Go và ứng dụng này chuyển địa chỉ đó đến hai dịch vụ Web: Yahoo! Maps (Các bản đồ của Yahoo!) và Yahoo! Weather (Thời tiết của Yahoo!)
Dịch vụ bản đồ này trả về 11 URL của bản đồ, trỏ đến các bản đồ của địa
chỉ này, với các mức phóng to khác nhau, trên máy chủ của Yahoo!. Dịch vụ
thời tiết chuyển trả lại một đoạn mã HTML được lắp ráp sẵn trước. Cả hai
URL hình ảnh và các đoạn mã HTML dễ dàng được hiển thị trong một khung
nhìn JSF, nhờ các thẻ <h:graphicImage> và
<h:outputText>, tương ứng.
Ứng dụng các địa điểm cho phép bạn nhập vào bao nhiêu địa chỉ tùy thích. Bạn thậm chí có thể sử dụng cùng một địa chỉ nhiều hơn một lần, như chỉ ra trong Hình 2, thực sự muốn minh họa các mức phóng to:
Hình 2. Các mức phóng to
Ứng dụng các địa điểm có bốn bean được quản lý, được liệt kê trong Bảng 1:
Bảng 1. Các bean được quản lý trong ứng dụng các địa điểm
| Tên bean được quản lý | Lớp | Phạm vi |
|---|---|---|
mapService
|
com.clarity.MapService
| Ứng dụng |
weatherService
|
com.clarity.WeatherService
| Ứng dụng |
places
|
com.clarity.Places
| Phiên |
place
|
com.clarity.Place
| Yêu cầu |
Ứng dụng lưu một danh sách về các Place, (địa
điểm), được miêu tả trong Hình 1, trong phạm vi phiên
làm việc và duy trì một Place trong phạm vi của
yêu cầu (request). Ứng dụng này cũng cung cấp các API đơn giản trong các
dịch vụ Web bản đồ và các dịch vụ Web thời tiết của Yahoo! với các bean
được quản lý mapService và weatherService trong phạm vi ứng dụng, tương ứng.
Việc tạo các địa điểm rất đơn giản. Liệt kê 1 cho thấy mã cho biểu mẫu địa chỉ chứa trong khung nhìn của Hình 1:
Liệt kê 1. Các biểu mẫu địa chỉ
<h:form>
<h:panelGrid columns="2">
#{msgs.streetAddress} <h:inputText value="#{place.streetAddress}" size="15"/>
#{msgs.city} <h:inputText value="#{place.city}" size="10"/>
#{msgs.state} <h:inputText value="#{place.state}" size="2"/>
#{msgs.zip} <h:inputText value="#{place.zip}" size="5"/>
<h:commandButton value="#{msgs.goButtonText}"
style="font-family:Palatino;font-style:italic"
action="#{place.fetch}"/>
</h:panelGrid>
</h:form>
|
Khi người dùng kích hoạt nút Go và gửi đi biểu mẫu, JSF gọi phương thức
hành động của nút: place.fetch(). Phương thức
này gửi thông tin từ các dịch vụ Web tới Place.addPlace(), nó tạo ra một cá thể Place (Địa điểm) mới, khởi trị cho cá thể bằng dữ liệu được
chuyển tới phương thức đó và lưu trữ nó trong phạm vi của yêu cầu.
Liệt kê 2 hiển thị Place.fetch():
Liệt kê 2. Phương thức
Place.fetch()
public class Place {
...
private String[] mapUrls
private String weather
...
public String fetch() {
FacesContext fc = FacesContext.getCurrentInstance()
ELResolver elResolver = fc.getApplication().getELResolver()
// Get maps
MapService ms = elResolver.getValue(
fc.getELContext(), null, "mapService")
mapUrls = ms.getMap(streetAddress, city, state)
// Get weather
WeatherService ws = elResolver.getValue(
fc.getELContext(), null, "weatherService")
weather = ws.getWeatherForZip(zip, true)
// Get places
Places places = elResolver.getValue(
fc.getELContext(), null, "places")
// Add new place to places
places.addPlace(streetAddress, city, state, mapUrls, weather)
return null
}
}
|
Place.fetch() sử dụng trình phân giải (resolver)
biến của JSF để tìm các bean được quản lý mapService và weatherService và nó
sử dụng các bean được quản lý đó để nhận được bản đồ và thông tin thời
tiết từ Dịch vụ Web của Yahoo!. Sau đó fetch()
gọi places.addPlace(), sử dụng bản đồ và thông
tin thời tiết, cùng với địa chỉ, để tạo ra một Place mới trong phạm vi của yêu cầu.
Lưu ý là fetch() trả về null (không). Bởi vì fetch() là một
phương thức hành động kết hợp với một nút nhấn, giá trị trả về null đó làm cho JSF nạp lại cùng khung nhìn, hiển
thị tất cả các địa điểm trong phiên làm việc của người dùng, như chỉ ra
trong Liệt kê 3:
Liệt kê 3. Hiển thị các địa điểm trong một khung nhìn
<ui:composition xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml"
xmlns:f="http://java.sun.com/jsf/core"
xmlns:h="http://java.sun.com/jsf/html"
xmlns:ui="http://java.sun.com/jsf/facelets">
<h:form>
<!-- Iterate over the list of places -->
<ui:repeat value="#{places.placesList}" var="place">
<div class="placeHeading">
<h:panelGrid columns="1">
<!-- Address at the top -->
<h:panelGroup>
<div style="padding-left: 5px;">
<i><h:outputText value="#{place.streetAddress}"/></i>,
<h:outputText value="#{place.city}"/>
<h:outputText value="#{place.state}"/>
<hr/>
</div>
</h:panelGroup>
<!-- zoom level prompt and drop down -->
<h:panelGrid columns="2">
<!-- prompt -->
<div style="padding-right: 10px;margin-bottom: 10px;font-size:14px">
#{msgs.zoomPrompt}
</div>
<!-- dropdown -->
<h:selectOneMenu onchange="submit()"
value="#{place.zoomIndex}"
valueChangeListener="#{place.zoomChanged}"
style="font-size:13px;font-family:Palatino">
<f:selectItems value="#{places.zoomLevelItems}"/>
</h:selectOneMenu>
</h:panelGrid>
<!-- The map -->
<h:graphicImage url="#{place.mapUrl}" style="border: thin solid gray"/>
</h:panelGrid>
<!-- The weather -->
<div class="placeMap">
<div style="margin-top: 10px;width:250px;">
<h:outputText style="font-size: 12px;"
value="#{place.weather}"
escape="false"/>
</div>
</div>
</div>
</ui:repeat>
</h:form>
</ui:composition>
|
Mã trong Liệt kê 3 sử dụng thẻ <ui:repeat> của Facelets để nối vòng qua danh sách các
địa điểm được lưu trữ trong phiên làm việc của người dùng. Đối với mỗi địa
điểm, kết quả đầu ra tương tự như Hình 3:
Hình 3. Một địa điểm được chỉ rõ trong một khung nhìn
Trình đơn zoom (phóng to) (xem Hình 3 và Liệt kê 3) có một thuộc tính onchange="submit()", do đó hàm JavaScript submit() gửi biểu mẫu bao quanh trình đơn khi người sử dụng
chọn một mức phóng to. Kết quả của việc gửi biểu mẫu làm cho JSF gọi trình
nghe thay đổi giá trị kết hợp với trình đơn — đó là phương
thức Place.zoomChanged() được hiển thị trong
Liệt kê 4:
Liệt kê 4.
Place.zoomChanged()public void zoomChanged(ValueChangeEvent e) {
String value = e.getComponent().getValue()
zoomIndex = (new Integer(value)).intValue()
}
|
Place.zoomChanged() lưu trữ mức phóng to trong
một biến thành phần của lớp Place có tên là
zoomIndex. Vì sự dẫn hướng này không bị ảnh
hưởng cho hành trình này đến máy chủ, nên JSF nạp lại cùng trang ấy và bản
đồ được cập nhật với các mức phóng to mới, như sau: <h:graphicImage url="#{place.mapUrl}..."/>. Khi
hình ảnh được lấy ra, JSF gọi Place.getMapUrl(), trả về URL của bản đồ cho mức phóng to hiện
tại, như thể hiện trong Liệt kê 5:
Liệt kê 5.
Place.getMapUrl()public String getMapUrl() {
return mapUrls == null ? "" : mapUrls[zoomIndex]
}
|
Nếu bạn đã sử dụng JSF 1, bạn có thể đã nhận thấy một số khác biệt tinh tế
trong mã JSF 2 trong bài viết này. Đầu tiên, tôi đang sử dụng công nghệ
hiển thị mới của JSF 2 — Facelets — thay vì
JSP. Như bạn sẽ thấy trong các bài viết tiếp theo của loạt bài này,
Facelets cung cấp nhiều tính năng mạnh mẽ để giúp bạn triển khai thực hiện
các giao diện người dùng mạnh mẽ, linh hoạt và mở rộng được. Thế nhưng
trong các liệt kê mã trước đây, tôi không đề cập nhiều đến khả năng này.
Tuy nhiên, một trong nhiều cải tiến nhỏ mà Facelets mang lại cho JSF là
khả năng đặt các biểu thức giá trị của JSF trực tiếp vào trang XHTML của
bạn; ví dụ, trong Liệt kê 1, tôi đã đặt các biểu
thức như #{msgs.city} trực tiếp vào trong
trang. Với JSF 1, bạn phải bao bọc biểu thức đó trong một thẻ <h:outputText>, như thế này: <h:outputText value="#{msgs.city}"/>. Tuy
nhiên, cần hiểu rõ là bạn luôn phải áp mã thoát (escape) đối với bản đến
từ đầu vào của người sử dụng vì lý do an ninh, do đó, ví dụ, trong Liệt kê 3 tôi sử dụng <h:outputText>, để hiển thị thông tin địa điểm, vì theo
mặc định, thẻ này áp mã thoát cho văn bản của nó.
Một điều khác cần lưu ý, từ phối cảnh của Facelets, là thẻ <ui:composition> trong Liệt kê 3. Thẻ đó biểu thị rằng trang XHTML trong Liệt kê 3 dự
tính là sẽ được chứa trong các trang XHTML khác. Các cấu kiện
(compositions) của Facelets là thành phần trung tâm của việc tạo khuôn
mẫu (templating) Facelets, nó tương tự với khung công tác Tiles
rất phổ biến của Apache. Trong một bài viết tiếp theo của loạt bài này,
tôi sẽ thảo luận về tạo khuôn mẫu Facelets và cho bạn thấy làm thế nào để
cấu trúc các khung nhìn của bạn theo mẫu phương thức kết hợp
(Composed Method) của Smalltalk.
Cho đến nay, ngoài việc sử dụng Facelets, đoạn mã trên không khác về cơ bản với JSF 1. Bây giờ tôi sẽ cho bạn thấy một số khác biệt đáng kể hơn. Khác biệt lớn thứ nhất là số lượng cấu hình XML mà bạn sẽ viết cho các ứng dụng JSF 2.
Lời khuyên 1: Hãy từ bỏ cấu hình XML
Cấu hình XML cho các ứng dụng Web luôn luôn đáng ngờ — nó tẻ nhạt và dễ bị lỗi và tốt nhất nên được giao cho một khung công tác, có thể là thông qua các chú giải, các quy ước hoặc các ngôn ngữ đặc thù riêng cho lĩnh vực ứng dụng. Với vai trò các nhà phát triển, chúng ta sẽ có thể tập trung vào việc giải quyết vấn đề, thay vì phải xoay xở với nhiều chi tiết vụn vặt trong tài liệu XML dài dòng.
Như một ví dụ minh họa tốt, Liệt kê 6 cho thấy 20 dòng XML cần thiết để khai báo các bean được quản lý trong ứng dụng địa điểm với JSF 1:
Liệt kê 6. Các khai báo bean-quản lý cho JSF 1
<managed-bean> <managed-bean-class>com.clarity.MapService</managed-bean-class> <managed-bean-name>mapService</managed-bean-name> <managed-bean-scope>application</managed-bean-scope> </managed-bean> <managed-bean> <managed-bean-class>com.clarity.WeatherService</managed-bean-class> <managed-bean-name>weatherService</managed-bean-name> <managed-bean-scope>application</managed-bean-scope> </managed-bean> <managed-bean> <managed-bean-class>com.clarity.Places</managed-bean-class> <managed-bean-name>places</managed-bean-name> <managed-bean-scope>session</managed-bean-scope> </managed-bean> <managed-bean> <managed-bean-class>com.clarity.Place</managed-bean-class> <managed-bean-name>place</managed-bean-name> <managed-bean-scope>request</managed-bean-scope> </managed-bean> |
Với JSF 2, XML biến mất và thay vào đó bạn chú giải các lớp của mình, như chỉ ra trong Liệt kê 7:
Liệt kê 7. Các chú giải bean-quản lý cho JSF 2
@ManagedBean(eager=true)
public class MapService {
...
}
@ManagedBean(eager=true)
public class WeatherService {
...
}
@ManagedBean()
@SessionScoped
public class Places {
...
}
@ManagedBean()
@RequestScoped
public class Place {
...
}
|
Theo quy ước, tên của một bean được quản lý giống như tên lớp, với chữ cái
đầu của tên lớp được chuyển đổi từ chữ hoa thành chữ thường. Vì vậy, các
bean được quản lý được tạo ra từ Liệt kê 7, chẳng
hạn, từ trên xuống dưới, là: mapService, weatherService, places
và place. Bạn cũng có thể chỉ định rõ ràng một
tên bean được quản lý bằng thuộc tính name của
chú giải ManagedBean, như thế này: @ManagedBean(name = "place").
Trong Liệt kê 7, tôi sử dụng thuộc tính eager (háo hức) cho các bean được quản lý mapService và webService. Khi thuộc tính eager là
true (đúng), JSF tạo ra bean được quản lý
lúc khởi động và đặt nó trong phạm vi ứng dụng.
Bạn cũng có thể thiết lập các thuộc tính bean được quản lý với chú giải
@ManagedProperty. Bảng
2 cho thấy danh sách đầy đủ của các chú giải bean được quản lý của
JSF 2:
Bảng 2. Các chú giải bean được quản lý của JSF 2 (các chú giải
@...Scoped chỉ hợp lệ
với @ManagedBean)| Chú giải bean được quản lý | Mô tả | Các thuộc tính |
|---|---|---|
@ManagedBean
|
Đăng ký một cá thể của lớp này như là một bean được quản lý và
đặt nó trong phạm vi được chỉ rõ bằng một trong các chú giải
Chú giải này phải được sử dụng với một lớp Java triển khai thực hiện một hàm tạo không có đối số. | eager, name |
@ManagedProperty
|
Thiết lập một thuộc tính của một bean được quản lý. Chú giải
này phải được đặt trước khai báo biến thành phần của lớp.
Thuộc tính | value, name |
@ApplicationScoped
| Lưu trữ bean được quản lý trong phạm vi ứng dụng. | |
@SessionScoped
| Lưu trữ bean được quản lý trong phạm vi phiên làm việc. | |
@RequestScoped
| Lưu trữ bean được quản lý trong phạm vi của yêu cầu. | |
@ViewScoped
| Lưu trữ bean được quản lý trong phạm vi khung nhìn. | |
@NoneScoped
| Xác định rằng bean được quản lý không có phạm vi nào. Các bean được quản lý không có phạm vi nào rất hữu ích khi chúng được tham chiếu bởi các bean khác. | |
@CustomScoped
|
Lưu trữ bean được quản lý trong một phạm vi tùy chỉnh. Một phạm vi tùy chỉnh đơn giản chỉ là một bản đồ mà các tác giả
của trang có thể truy cập vào. Bạn có thể kiểm soát bằng lập
trình tầm nhìn và vòng đời của bean trong các phạm vi tùy
chỉnh. Thuộc tính |
value
|
Loại bỏ các khai báo bean được quản lý khỏi faces-config.xml làm giảm đáng kể XML của bạn, nhưng bạn có thể từ bỏ hầu như tất cả những cái đó với JSF 2 thông qua hoặc các chú giải, như tôi đang làm với các bean được quản lý, hoặc các quy ước, như đã làm cho việc xử lý dẫn hướng đơn giản hóa của JSF 2.
Lời khuyên 2: Đơn giản hóa dẫn hướng
Trong JSF 1, việc dẫn hướng đã được xác định trong XML. Ví dụ, để đi từ login.xhtml đến places.xhtml, bạn có thể sử dụng quy tắc dẫn hướng trong Liệt kê 8:
Liệt kê 8. Các quy tắc cấu hình dẫn hướng và các trường hợp đối với JSF 1
<navigation-rule>
<navigation-case>
<from-view-id>/pages/login.xhtml</from-view-id>
<outcome>places</outcome>
<to-view-id>/pages/places.xhtml</to-view-id>
</navigation-case>
</navigation-rule>
|
Để thoát khỏi XML trong Liệt kê 8, bạn có thể tận
dụng lợi thế của quy ước dẫn hướng của JSF 2: JSF thêm .xhtml vào cuối
hành động của nút nhấn và nạp tệp đó. Điều đó có nghĩa là bạn không cần
các chú giải hay bất cứ điều gì khác hơn là các quy ước để thoát khỏi hoàn
toàn việc viết quy tắc dẫn hướng. Trong Liệt kê 9, hành động của nút này
là places, do đó, JSF nạp places.xhtml:
Liệt kê 9. Dẫn hướng theo quy ước
<h:commandButton id="loginButton"
value="#{msgs.loginButtonText}"
action="places"/>
|
Với Liệt kê 9 không có yêu cầu XML dẫn hướng nào.
Nút trong Liệt kê 9 nạp places.xhtml, nhưng chỉ khi tệp đó ở trong cùng
thư mục với tệp có chứa nút đó. Nếu hành động không bắt đầu bằng một dấu
gạch xiên (/), JSF giả định rằng đó là một
đường dẫn tương đối. Nếu bạn muốn rõ ràng hơn, bạn có thể chỉ rõ một đường
dẫn tuyệt đối, như thể hiện trong Liệt kê 10:
Liệt kê 10. Dẫn hướng bằng các đường dẫn tuyệt đối
<h:commandButton id="loginButton"
value="#{msgs.loginButtonText}"
action="/pages/places"/>
|
Khi người dùng kích hoạt nút trong Liệt kê 10, JSF nạp tệp /pages/places.xhtml.
Theo mặc định, JSF chuyển tiếp từ trang XHTML sang một trang khác, nhưng
thay vào đó bạn có thể chuyển hướng bằng cách chỉ rõ tham số faces-redirect, như minh họa trong Liệt kê
11:
Liệt kê 11. Dẫn hướng bằng chuyển hướng
<h:commandButton id="loginButton"
value="#{msgs.loginButtonText}"
action="places?faces-redirect=true"/>
|
Điều tốt nhất về công nghệ Java không phải là ngôn ngữ Java, mà là máy ảo Java (JVM). Các ngôn ngữ mạnh mẽ, mới và sáng tạo như Scala, JRuby và Groovy chạy trên JVM, cho bạn những không gian khác để viết mã trong đó. Groovy — tên không hay nhưng là một pha trộn có thể làm nhiều việc của Ruby, Smalltalk và ngôn ngữ Java — là một trong những ngôn ngữ được ưa chuộng nhất trong các ngôn ngữ ấy (xem Tài nguyên).
Có nhiều lý do để sử dụng Groovy, bắt đầu từ thực tế là nó ngắn gọn hơn nhiều và mạnh hơn nhiều so với người anh em họ thứ hai của nó, đó là ngôn ngữ Java. Thêm hai lý do: không có các dấu chấm phẩy và không yêu cầu phải ép kiểu (casting).
Bạn có thể đã không nhận thấy, nhưng Liệt kê 2,
dành cho lớp Place, được viết bằng Groovy. Việc
thiếu các dấu chấm phẩy là một manh mối, nhưng cũng hãy lưu ý dòng mã này:
MapService ms = elResolver.getValue(...).
Với mã Java, tôi sẽ phải ép kiểu kết quả của ElResolver.getValue(), vì phương thức đó trả về kiểu Object (Đối tượng). Groovy thực hiện việc ép kiểu
thay cho tôi.
Bạn có thể sử dụng Groovy cho bất kỳ các tạo phẩm JSF nào mà bạn thường có
thể viết bằng mã Java — ví dụ, các thành phần, các trình
biểu hiện (renderer), các trình xác nhận hợp lệ (Validator) và các trình
chuyển đổi (converter). Trong thực tế, điều này không có gì mới với JSF 2
— vì các tệp nguồn Groovy biên dịch thành bytecode của
Java, bạn có thể sử dụng các tệp .class được Groovy sinh ra như thể chúng
được javac tạo ra. Tất nhiên, ngay khi bạn đã
thực hiện được việc này, bạn sẽ muốn biết làm thế nào để triển khai-nóng
mã nguồn Groovy và đối với người sử dụng Eclipse, câu trả lời thật đơn
giản: hãy tải về và cài đặt trình cắm thêm (plug-in) Groovy Eclipse (xem
Tài nguyên). Mojarra, một triển khai thực
hiện JSF của Sun, đã hỗ trợ rõ ràng cho Groovy kể từ phiên bản 1.2_09 (xem
Tài nguyên).
Lời khuyên 4: Sử dụng các trình xử lý tài nguyên
JSF 2 cung cấp một cơ chế tiêu chuẩn để định nghĩa và truy cập tài nguyên. Bạn đặt các tài nguyên của bạn trong một thư mục mức cao nhất có tên là resources (tài nguyên) và sử dụng một số thẻ JSF 2 để truy cập các tài nguyên này trong các khung nhìn của bạn. Ví dụ, Hình 4 cho thấy tài nguyên dành cho ứng dụng các địa điểm:
Hình 4. Tài nguyên của ứng dụng các địa điểm
Yêu cầu duy nhất cho một tài nguyên là nó nằm trong thư mục resources hoặc một thư mục con từ đó. Bạn có thể đặt tên các thư mục con của thư mục tài nguyên bất cứ là gì bạn muốn.
Trong mã khung nhìn của bạn, bạn có thể truy cập tài nguyên bằng một vài
thẻ JSF 2: <h:outputScript> và <h:outputStylesheet>. Các thẻ đó làm việc
phối hợp với thẻ <h:head> và <h:body> của JSF 2, như thể hiện trong Liệt
kê 12:
Liệt kê 12. Truy cập tài nguyên trong XHTML
<html xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml"
xmlns:ui="http://java.sun.com/jsf/facelets"
xmlns:h="http://java.sun.com/jsf/html">
<h:head>
...
</h:head>
<h:body>
<h:outputStylesheet library="css" name="styles.css" target="body"/>
<h:outputScript library="javascript" name="util.js" target="head"/>
...
</h:body>
</html>
|
Các thẻ <h:outputScript> và <h:outputStylesheet> có hai thuộc tính để
nhận biết kịch bản lệnh hay bảng định kiểu (stylesheet), tương ứng là:
library và name.
Tên library tương ứng với thư mục, trong thư
mục resources, nơi tài nguyên được lưu trữ. Ví dụ, nếu bạn có một bảng
định kiểu trong một thư mục resources/css/en, library sẽ là css/en. Thuộc tính
name là tên của chính tài nguyên đó.
Tài nguyên có thể định vị lại được
Điều quan trọng là các nhà phát triển có thể xác định họ muốn tài nguyên của họ xuất hiện ở đâu trong một trang. Ví dụ, nếu bạn đặt mã JavaScript trong phần thân của một trang, trình duyệt sẽ thi hành mã JavaScript khi nạp trang. Mặt khác, nếu bạn đặt mã JavaScript trong phần đầu của một trang, mã JavaScript đó sẽ chỉ được thi hành khi được gọi. Vì vị trí của tài nguyên có thể ảnh hưởng đến cách nó được sử dụng, nên bạn cần có khả năng xác định bạn muốn tài nguyên kết thúc ở đâu.
Các tài nguyên JSF 2 có thể định vị lại, nghĩa là bạn có thể xác
định vị trí trong trang mà bạn muốn đặt chúng. Bạn chỉ rõ vị trí đó bằng
thuộc tính target (đích); ví dụ, trong Liệt kê 12, tôi đặt CSS trong phần thân và mã
JavaScript trong phần đầu.
Đôi khi bạn cần truy cập vào một tài nguyên bằng cách sử dụng ngôn ngữ biểu
thức (EL) của JSF. Ví dụ, Liệt kê 13 cho thấy làm thế nào bạn có thể truy
cập một hình ảnh bằng <h:graphicImage>:
Liệt kê 13. Truy cập vào tài nguyên bằng ngôn ngữ biểu thức của JSF
<h:graphicImage value="#{resource['images:cloudy.gif']}"/>
|
Cú pháp để truy cập vào tài nguyên trong một biểu thức EL là resource['LIBRARY:NAME'], ở đây
LIBRARY
và
NAME
tương ứng với các thuộc tính library và
name của các thẻ <h:outputScript> và <h:outputStylesheet>.
Cho đến nay tôi chỉ mới bàn sơ qua mặt ngoài của các đặc tính JSF 2, đó là các chú giải của bean được quản lý, đơn giản hóa việc dẫn hướng và hỗ trợ cho tài nguyên. Trong hai bài viết còn lại trong loạt bài này, tôi sẽ khảo sát tỉ mỷ Facelets, các thành phần phức hợp của JSF 2 và sự hỗ trợ làm sẵn cho Ajax.
| Mô tả | Tên | Kích thước | Phương thức tải |
|---|---|---|---|
| Source code | jsf2fu1.zip | 1.9MB | HTTP |
Học tập
- Trang chủ JSF: Tìm
thêm tài nguyên về phát triển với JSF.
- "Groovy+Mojarra" (Ryan Lubke's Blog, April 2008): Lubke, một kỹ sư
của Sun thảo luận về cách sử dụng Groovy với Mojarra 1.2_09.
- "Truy cập công khai đến các cuộc thảo luận JSF 2.0 JSR-314-EG hiện đã
có sẵn" (Ed Burns's Blog, java.net, 03.2009): Tìm hiểu cách đăng
ký vào danh sách gửi thư của nhóm chuyên gia JSF2.
- Blog của Roger Kitain:
Roger Kitain và Ed Burns cùng đứng đầu nhóm đặc tả cho JSF 2.0.
- Blog của Jim
Driscoll: Bạn sẽ tìm thấy nhiều mục có liên quan đến JSF
2.
- Blog
của Ryan Lubke: Ryan Lubke làm việc về triển khai thực hiện tham
chiếu JSF 2.
- Groovy thực hành (Andrew Glover and Scott Davis,
developerWorks): Tăng tốc với Groovy.
- Vùng
công nghệ Java của developerWorks: Tìm hàng trăm bài viết về mọi
khía cạnh về lập trình Java.
Lấy sản phẩm và công nghệ
- JSF: Tải về JSF 2.0.
- Trình cắm thêm
Eclipse của Groovy (Groovy Eclipse Plugin): Sử dụng trình cắm thêm
này để đơn giản hóa sự phát triển Groovy.
Thảo luận
- Xem các blog
của developerWorks và dành hết tâm trí cho cộng đồng My developerWorks.

David Geary, là tác giả, diễn giả và nhà tư vấn, là chủ tịch của Clarity Training, Inc., nơi ông dạy cho các nhà phát triển cách triển khai thực hiện các ứng dụng Web bằng cách sử dụng JSF và Bộ công cụ Web của Google (Google Web Toolkit-GWT). Ông đã ở trong nhóm chuyên gia JSTL 1.0 và JSF 1.0/2.0, đồng tác giả của kỳ thi lấy chứng chỉ nhà phát triển Web của Sun và đã đóng góp vào các dự án mã nguồn mở, bao gồm Apache Struts và Apache Shale. Cuốn Graphic Java Swing của David đã là một trong những cuốn sách Java bán chạy nhất mọi thời đại và Core JSF (viết cùng với Cay Horstman), là cuốn sách JSF bán chạy nhất. David thuyết trình thường xuyên tại các hội nghị và các nhóm người dùng. Ông đã thường xuyên tham gia các chuyến đi NFJS từ năm 2003, đã dạy các khóa học tại Đại học Java và đã hai lần được bình chọn là một ngôi sao rock của JavaOne.