Phần 4 và Phần 5 của loạt bài này trình bày cách bạn có thể sử dụng Javassist để đặt các thay đổi tới các lớp nhị phân. Lúc này bạn sẽ tìm hiểu về một cách sử dụng khung công tác còn mạnh hơn, tận dụng sự trợ giúp của Javassist để tìm tất cả các lợi ích của một phương thức hoặc trường cụ thể trong mã byte (bytecode). Tính năng này chí ít cũng quan trọng cho sức mạnh của Javassist như sự hỗ trợ của nó cho một hướng đi giống như mã nguồn của bytecode cụ thể. Sự hỗ trợ cho việc thay thế có chọn lọc các hoạt động cũng là tính năng làm cho Javassist trở thành một công cụ xuất sắc để bổ sung thêm các tính năng lập trình hướng-khía cạnh cho mã Java chuẩn.
Trong Phần 5 bạn đã thấy cách Javassist cho phép bạn chặn quá trình nạp lớp (classloading) -- và thậm chí thực hiện các thay đổi cho các biểu diễn lớp nhị phân khi chúng đang được nạp. Các phép biến đổi bytecode có hệ thống mà tôi đang trình bày trong bài viết này có thể được sử dụng hoặc cho các phép biến đổi tệp lớp tĩnh hoặc chặn trong thời gian chạy, nhưng chúng đặc biệt có ích khi được sử dụng trong thời gian chạy.
Javassist cung cấp hai cách riêng biệt để xử lý các thay đổi bytecode có hệ
thống. Kỹ thuật đầu tiên, sử dụng lớp javassist.CodeConverter, là một cách sử dụng đơn giản hơn một
chút nhưng có nhiều hạn chế về mặt bạn có thể thực hiện cái gì. Kỹ thuật
thứ hai sử dụng các lớp con tùy chỉnh của lớp javassist.ExprEditor. Kỹ thuật này có nhiều việc hơn một chút,
nhưng tính linh hoạt được bổ sung nhiều hơn bù đắp cho sự cố gắng đó. Tôi
sẽ xem xét các ví dụ về cả hai cách tiếp cận trong bài viết này.
Kỹ thuật Javassist đầu tiên để thay đổi bytecode có hệ thống sử dụng lớp
javassist.CodeConverter. Để sử dụng tốt kỹ
thuật này, bạn chỉ cần tạo một cá thể của lớp CodeConverter và cấu hình nó với một hoặc nhiều hoạt động
chuyển đổi. Mỗi phép chuyển đổi được cấu hình bằng cách sử dụng một cuộc
gọi phương thức nhận biết kiểu chuyển đổi. Các phép chuyển đổi này rơi vào
ba loại: các phép chuyển đổi gọi phương thức, các phép chuyển đổi truy cập
trường và một phép chuyển đổi đối tượng mới.
Liệt kê 1 cho một ví dụ về cách sử dụng một phép chuyển đổi phương thức
gọi. Trong trường hợp này, phép chuyển đổi chỉ cần thêm một khai báo rằng
phương thức này đang được gọi. Trong đoạn mã này, đầu tiên tôi nhận được
cá thể javassist.ClassPool mà tôi sắp sử dụng
trong suốt bài này, cấu hình nó để làm việc với một trình dịch (như đã có
trước đây trong Phần
5). Sau đó, tôi truy cập một cặp các định nghĩa phương thức thông
qua ClassPool. Định nghĩa phương thức đầu tiên
dành cho phương thức kiểu "set" (thiết lập) để được theo dõi (với tên lớp
và phương thức từ các đối số dòng lệnh), định nghĩa thứ hai cho phương
thức reportSet() trong lớp TranslateConvert, lớp này sẽ thông báo một cuộc gọi cho phương
thức đầu tiên.
Một khi đã có thông tin về phương thức, tôi có thể sử dụng CodeConverter
insertBeforeMethod() để cấu hình một phép
chuyển đổi để thêm một cuộc gọi đến phương thức thông báo trước mỗi cuộc
gọi đến phương thức set. Sau đó tất cả những thứ cần được thực hiện là áp
dụng các bộ chuyển đổi (converter) này cho một hoặc nhiều lớp. Trong đoạn
mã của Liệt kê 1, tôi thực hiện việc này trong phương thức onWrite() của lớp bên trong ConverterTranslator với cuộc gọi đến phương thức instrument() của đối tượng lớp. Việc này sẽ tự
động áp dụng phép chuyển đổi này cho mọi lớp đã nạp từ cá thể ClassPool.
Liệt kê 1. Sử dụng CodeConverter
public class TranslateConvert
{
public static void main(String[] args) {
if (args.length >= 3) {
try {
// set up class loader with translator
ConverterTranslator xlat =
new ConverterTranslator();
ClassPool pool = ClassPool.getDefault(xlat);
CodeConverter convert = new CodeConverter();
CtMethod smeth = pool.get(args[0]).
getDeclaredMethod(args[1]);
CtMethod pmeth = pool.get("TranslateConvert").
getDeclaredMethod("reportSet");
convert.insertBeforeMethod(smeth, pmeth);
xlat.setConverter(convert);
Loader loader = new Loader(pool);
// invoke "main" method of application class
String[] pargs = new String[args.length-3];
System.arraycopy(args, 3, pargs, 0, pargs.length);
loader.run(args[2], pargs);
} catch ...
}
} else {
System.out.println("Usage: TranslateConvert " +
"clas-name set-name main-class args...");
}
}
public static void reportSet(Bean target, String value) {
System.out.println("Call to set value " + value);
}
public static class ConverterTranslator implements Translator
{
private CodeConverter m_converter;
private void setConverter(CodeConverter convert) {
m_converter = convert;
}
public void start(ClassPool pool) {}
public void onWrite(ClassPool pool, String cname)
throws NotFoundException, CannotCompileException {
CtClass clas = pool.get(cname);
clas.instrument(m_converter);
}
}
}
|
Đó là một hoạt động khá phức tạp để cấu hình, nhưng sau khi nó được thiết
lập nó sẽ hoạt động dễ dàng. Liệt kê 2 cho một ví dụ mã để sử dụng như là
một trường hợp thử nghiệm. Ở đây Bean cung cấp
một đối tượng thử nghiệm với các phương thức get và set giống như Bean,
các phương thức này được chương trình BeanTest
sử dụng để truy cập các giá trị.
Liệt kê 2. Một trình thử nghiệm bean
public class Bean
{
private String m_a;
private String m_b;
public Bean() {}
public Bean(String a, String b) {
m_a = a;
m_b = b;
}
public String getA() {
return m_a;
}
public String getB() {
return m_b;
}
public void setA(String string) {
m_a = string;
}
public void setB(String string) {
m_b = string;
}
}
public class BeanTest
{
private Bean m_bean;
private BeanTest() {
m_bean = new Bean("originalA", "originalB");
}
private void print() {
System.out.println("Bean values are " +
m_bean.getA() + " and " + m_bean.getB());
}
private void changeValues(String lead) {
m_bean.setA(lead + "A");
m_bean.setB(lead + "B");
}
public static void main(String[] args) {
BeanTest inst = new BeanTest();
inst.print();
inst.changeValues("new");
inst.print();
}
}
|
Đây là kết quả khi tôi vừa chạy trực tiếp chương trình
BeanTest BeanTest của Liệt kê 2:
[dennis]$ java -cp . BeanTest Bean values are originalA and originalB Bean values are newA and newB |
Nếu tôi chạy nó bằng cách sử dụng chương trình TranslateConvert của Liệt kê 1 và chỉ
định một trong các phương thức set để theo dõi, thì kết quả sẽ như
sau:
[dennis]$ java -cp .:javassist.jar TranslateConvert Bean setA BeanTest Bean values are originalA and originalB Call to set value newA Bean values are newA and newB |
Tất cả mọi thứ hoạt động giống như trước, nhưng bây giờ có một khai báo rằng phương thức được chọn này đang được gọi trong lúc thực hiện chương trình.
Trong trường hợp này, tác dụng tương tự có thể dễ dàng đạt được theo các
cách khác, ví dụ bằng cách thêm mã vào phần thân của phương thức set thực
tế khi sử dụng các kỹ thuật từ Phần
4. Sự khác biệt ở đây là do thêm đoạn mã tại điểm sử dụng này, tôi
đạt được tính linh hoạt. Ví dụ, tôi có thể dễ dàng thay đổi phương thức
TranslateConvert.ConverterTranslator
onWrite() để kiểm tra tên lớp đang được nạp và
chỉ biến đổi các lớp được tính đến trong một danh sách mà tôi quan tâm
theo dõi. Việc thêm mã trực tiếp vào phần thân của phương thức set sẽ
không cho phép theo dõi có chọn lọc như vậy.
Tính linh hoạt do các phép chuyển đổi bytecode có hệ thống cung cấp là điều làm cho chúng trở thành một công cụ mạnh trong việc triển khai thực hiện các mở rộng theo hướng-khía cạnh cho các mã Java tiêu chuẩn. Bạn sẽ thấy nhiều hơn về điều này trong phần còn lại của bài viết này.
Các phép chuyển đổi do CodeConverter thực hiện
có lợi, nhưng bị hạn chế. Ví dụ, nếu bạn muốn gọi một phương thức theo dõi
trước hoặc sau khi gọi một phương thức đích, thì phương thức theo dõi đó
phải được định nghĩa như là static void (khoảng
trống cố định) và phải chọn một tham số lớp của phương thức đích, tiếp
theo là số và các kiểu tham số như phương thức đích. Khi phương thức theo
dõi này được gọi, đối tượng đích thực sự chuyển qua như là đối số đầu tiên
của nó, tiếp theo là tất cả các đối số cho phương thức đích.
Cấu trúc cứng nhắc này muốn nói rằng các phương thức theo dõi cần phải
giống hệt với lớp và phương thức đích. Với ví dụ này, giả sử tôi thay đổi
định nghĩa của phương thức reportSet() trong Liệt kê 1 để chọn một tham số java.lang.Object chung với hy vọng làm cho nó có thể sử dụng
với các lớp đích khác nhau:
public static void reportSet(Object target, String value) {
System.out.println("Call to set value " + value);
}
|
Điều này biên dịch tốt, nhưng khi tôi tiến hành thử nó thì nó không hoạt động:
[dennis]$ java -cp .:javassist.jar TranslateConvert Bean setA BeanTest
Bean values are A and B
java.lang.NoSuchMethodError: TranslateConvert.reportSet(LBean;Ljava/lang/String;)V
at BeanTest.changeValues(BeanTest.java:17)
at BeanTest.main(BeanTest.java:23)
at ...
|
Có nhiều cách để khắc phục được hạn chế này. Một giải pháp là thực sự tạo
một phương thức theo dõi tùy chỉnh trong thời gian chạy giống với phương
thức đích. Tuy nhiên có rất nhiều nỗ lực để vượt qua và tôi thậm chí sẽ
không thử nó cho bài viết này. May mắn thay, Javassist cũng cung cấp một
cách xử lý các phép biến đổi bytecode có hệ thống khác. Cách khác này, sử
dụng javassist.ExprEditor, vừa linh hoạt hơn và
vừa mạnh mẽ hơn CodeConverter.
Phân lớp được thực hiện dễ dàng
Các phép chuyển đổi Bytecode với javassist.ExprEditor xây dựng trên các nguyên tắc giống như
các phép chuyển đổi đã làm khi sử dụng CodeConverter. Cách tiếp cận ExprEditor có lẽ hơi khó hiểu, nên tôi sẽ bắt đầu bằng cách
giải thích các nguyên tắc cơ bản, rồi bổ sung các phép chuyển đổi thực sự.
Liệt kê 3 chỉ ra cách bạn có thể sử dụng ExprEditor để thông báo các mục cơ bản là các đích tiềm năng
cho các phép chuyển đổi hướng-khía cạnh. Ở đây tôi phân lớp ExprEditor trong VerboseEditor riêng của mình, ghi đè ba trong số các phương
thức lớp cơ sở -- tất cả có tên edit(), nhưng
với các kiểu tham số khác nhau. Như trong đoạn mã của Liệt kê 1, trên thực tế tôi sử dụng lớp con này từ trong phương
thức onWrite() của lớp bên trong DissectionTranslator, chuyển một cá thể trong
cuộc gọi đến phương thức instrument() của đối
tượng lớp cho mỗi lớp được nạp từ cá thể ClassPool của chúng ta.
Liệt kê 3. Một trình phân tích lớp (dissector)
public class Dissect
{
public static void main(String[] args) {
if (args.length >= 1) {
try {
// set up class loader with translator
Translator xlat = new DissectionTranslator();
ClassPool pool = ClassPool.getDefault(xlat);
Loader loader = new Loader(pool);
// invoke the "main" method of the application class
String[] pargs = new String[args.length-1];
System.arraycopy(args, 1, pargs, 0, pargs.length);
loader.run(args[0], pargs);
} catch (Throwable ex) {
ex.printStackTrace();
}
} else {
System.out.println
("Usage: Dissect main-class args...");
}
}
public static class DissectionTranslator implements Translator
{
public void start(ClassPool pool) {}
public void onWrite(ClassPool pool, String cname)
throws NotFoundException, CannotCompileException {
System.out.println("Dissecting class " + cname);
CtClass clas = pool.get(cname);
clas.instrument(new VerboseEditor());
}
}
public static class VerboseEditor extends ExprEditor
{
private String from(Expr expr) {
CtBehavior source = expr.where();
return " in " + source.getName() + "(" + expr.getFileName() + ":" +
expr.getLineNumber() + ")";
}
public void edit(FieldAccess arg) {
String dir = arg.isReader() ? "read" : "write";
System.out.println(" " + dir + " of " + arg.getClassName() +
"." + arg.getFieldName() + from(arg));
}
public void edit(MethodCall arg) {
System.out.println(" call to " + arg.getClassName() + "." +
arg.getMethodName() + from(arg));
}
public void edit(NewExpr arg) {
System.out.println(" new " + arg.getClassName() + from(arg));
}
}
}
|
Liệt kê 4 hiển thị kết quả do việc chạy chương trình Phân tích (Dissect) của Liệt kê 4 trên chương trình BeanTest của Liệt kê 2 tạo
ra. Kết quả này đưa ra thống kê chi tiết về những gì đang được thực hiện
trong mỗi phương thức của mỗi lớp được nạp, liệt kê tất cả các cuộc gọi
phương thức, các truy cập trường và các tạo phẩm đối tượng mới.
Liệt kê 4. BeanTest được phân tích
[dennis]$ java -cp .:javassist.jar Dissect BeanTest Dissecting class BeanTest new Bean in BeanTest(BeanTest.java:7) write of BeanTest.m_bean in BeanTest(BeanTest.java:7) read of java.lang.System.out in print(BeanTest.java:11) new java.lang.StringBuffer in print(BeanTest.java:11) call to java.lang.StringBuffer.append in print(BeanTest.java:11) read of BeanTest.m_bean in print(BeanTest.java:11) call to Bean.getA in print(BeanTest.java:11) call to java.lang.StringBuffer.append in print(BeanTest.java:11) call to java.lang.StringBuffer.append in print(BeanTest.java:11) read of BeanTest.m_bean in print(BeanTest.java:11) call to Bean.getB in print(BeanTest.java:11) call to java.lang.StringBuffer.append in print(BeanTest.java:11) call to java.lang.StringBuffer.toString in print(BeanTest.java:11) call to java.io.PrintStream.println in print(BeanTest.java:11) read of BeanTest.m_bean in changeValues(BeanTest.java:16) new java.lang.StringBuffer in changeValues(BeanTest.java:16) call to java.lang.StringBuffer.append in changeValues(BeanTest.java:16) call to java.lang.StringBuffer.append in changeValues(BeanTest.java:16) call to java.lang.StringBuffer.toString in changeValues(BeanTest.java:16) call to Bean.setA in changeValues(BeanTest.java:16) read of BeanTest.m_bean in changeValues(BeanTest.java:17) new java.lang.StringBuffer in changeValues(BeanTest.java:17) call to java.lang.StringBuffer.append in changeValues(BeanTest.java:17) call to java.lang.StringBuffer.append in changeValues(BeanTest.java:17) call to java.lang.StringBuffer.toString in changeValues(BeanTest.java:17) call to Bean.setB in changeValues(BeanTest.java:17) new BeanTest in main(BeanTest.java:21) call to BeanTest.print in main(BeanTest.java:22) call to BeanTest.changeValues in main(BeanTest.java:23) call to BeanTest.print in main(BeanTest.java:24) Dissecting class Bean write of Bean.m_a in Bean(Bean.java:10) write of Bean.m_b in Bean(Bean.java:11) read of Bean.m_a in getA(Bean.java:15) read of Bean.m_b in getB(Bean.java:19) write of Bean.m_a in setA(Bean.java:23) write of Bean.m_b in setB(Bean.java:27) Bean values are originalA and originalB Bean values are newA and newB |
Tôi có thể dễ dàng bổ sung thêm sự hỗ trợ cho các khuôn mẫu báo cáo, đưa ra
(instanceof) các thử nghiệm và bắt giữ
(catch) các khối bằng cách triển khai thực
hiện các phương thức thích hợp trong VerboseEditor. Nhưng việc liệt kê không có các thông tin về
các mục thành phần này trở nên tẻ nhạt, vì thế chúng ta hãy xem xét kỹ
việc thay đổi các mục này trên thực tế. .
Quá trình phân tích đang diễn ra
Việc phân tích các lớp của Lịệt kê 4 liệt kê các hoạt động thành phần cơ bản. Thật dễ dàng nhận thấy để làm việc với các hoạt động này sẽ có ích như thế nào khi triển khai thực hiện các tính năng theo hướng-khía cạnh. Ví dụ bộ ghi nhật ký để thông báo tất cả các truy cập đã viết vào các trường đã chọn sẽ là một khía cạnh có ích để áp dụng trong nhiều ứng dụng. Đó là một phần công việc mà tôi đã hứa chỉ cho bạn cách làm, sau này.
Thật may mắn cho chủ đề của bài viết này, ExprEditor không chỉ cho phép tôi biết các hoạt động nào đang
diễn ra trong đoạn mã này, mà nó còn cho phép tôi thay đổi các hoạt động
đang được thông báo. Các kiểu tham số được chuyển vào các cuộc gọi phương
thức ExprEditor.edit() khác nhau mà mỗi cuộc
gọi xác định một phương thức replace(). Nếu tôi
chuyển qua phương thức này một câu lệnh dưới dạng mã nguồn Javassist thông
thường (đã trình bày trong Phần
4), thì câu lệnh đó sẽ được biên dịch sang bytecode và được sử
dụng để thay thế hoạt động ban đầu. Điều này làm cho việc phân chia và cắt
nhỏ bytecode của bạn dễ dàng.
Liệt kê 5 cho thấy một ứng dụng thay thế mã. Thay vì chỉ có các hoạt động
ghi nhật ký, ở đây tôi đã chọn để thay đổi thực sự giá trị String đang được lưu trữ vào một trường đã chọn.
Trong FieldSetEditor, tôi triển khai thực hiện
chữ ký phương thức giống với các truy cập trường. Trong phương thức này,
tôi chỉ kiểm tra hai điều: tên trường là một tên tôi đang tìm kiếm và hoạt
động này là một hoạt động lưu trữ. Khi tôi tìm thấy một sự giống nhau, tôi
thay thế hoạt động lưu trữ ban đầu bằng một hoạt động sử dụng kết quả của
một cuộc gọi đến phương thức reverse() trong
lớp ứng dụng TranslateEditor hiện tại. Phương
thức reverse() chỉ cần đảo ngược thứ tự của các
ký tự trong chuỗi ban đầu và in ra một thông báo để cho biết rằng nó đã
được sử dụng.
Liệt kê 5. Đảo ngược các tập String
public class TranslateEditor
{
public static void main(String[] args) {
if (args.length >= 3) {
try {
// set up class loader with translator
EditorTranslator xlat =
new EditorTranslator(args[0], new FieldSetEditor(args[1]));
ClassPool pool = ClassPool.getDefault(xlat);
Loader loader = new Loader(pool);
// invoke the "main" method of the application class
String[] pargs = new String[args.length-3];
System.arraycopy(args, 3, pargs, 0, pargs.length);
loader.run(args[2], pargs);
} catch (Throwable ex) {
ex.printStackTrace();
}
} else {
System.out.println("Usage: TranslateEditor clas-name " +
"field-name main-class args...");
}
}
public static String reverse(String value) {
int length = value.length();
StringBuffer buff = new StringBuffer(length);
for (int i = length-1; i >= 0; i--) {
buff.append(value.charAt(i));
}
System.out.println("TranslateEditor.reverse returning " + buff);
return buff.toString();
}
public static class EditorTranslator implements Translator
{
private String m_className;
private ExprEditor m_editor;
private EditorTranslator(String cname, ExprEditor editor) {
m_className = cname;
m_editor = editor;
}
public void start(ClassPool pool) {}
public void onWrite(ClassPool pool, String cname)
throws NotFoundException, CannotCompileException {
if (cname.equals(m_className)) {
CtClass clas = pool.get(cname);
clas.instrument(m_editor);
}
}
}
public static class FieldSetEditor extends ExprEditor
{
private String m_fieldName;
private FieldSetEditor(String fname) {
m_fieldName = fname;
}
public void edit(FieldAccess arg) throws CannotCompileException {
if (arg.getFieldName().equals(m_fieldName) && arg.isWriter()) {
StringBuffer code = new StringBuffer();
code.append("$0.");
code.append(arg.getFieldName());
code.append("=TranslateEditor.reverse($1);");
arg.replace(code.toString());
}
}
}
}
|
Đây là những gì sẽ xảy ra nếu tôi chạy phần này trên chương trình BeanTest của Liệt kê 2 :
[dennis]$ java -cp .:javassist.jar TranslateEditor Bean m_a BeanTest TranslateEditor.reverse returning Alanigiro Bean values are Alanigiro and originalB TranslateEditor.reverse returning Awen Bean values are Awen and newB |
Tôi đã ghép thành công một cuộc gọi đến mã bổ sung ở mỗi hoạt động lưu trữ
trong trường Bean.m_a (một trong hàm tạo và một
trong phương thức thiết lập). Tôi có thể chống lại tác động này bằng cách
triển khai thay đổi tương tự như trong lúc nạp từ trường này, nhưng về
phần mình tôi thấy các giá trị đảo ngược gây chú ý nhiều hơn những gì
chúng ta đã bắt đầu, vì vậy tôi sẽ chọn dừng lại vấn đề này.
Trong bài viết này, bạn đã thấy cách chuyển đổi bytecode có hệ thống có thể dễ dàng thực hiện khi sử dụng Javassist. Kết hợp nó với hai bài viết cuối cùng, bạn cần phải có một cơ sở vững chắc để thực hiện các phép chuyển đổi của các ứng dụng Java theo hướng khía cạnh riêng của mình hoặc như một bước xây dựng riêng biệt hoặc trong lúc chạy.
Để có một ý tưởng tốt hơn về sức mạnh của cách tiếp cận này, bạn có thể cũng muốn xem xét dự án JBoss Aspect Oriented Programming (JBossAOP-Lập trình hướng-khía cạnh JBoss), được xây dựng xung quanh Javassist. JBossAOP sử dụng một tệp cấu hình XML để xác định bất kỳ một trong nhiều hoạt động khác nhau được thực hiện cho lớp ứng dụng của bạn. Chúng bao gồm việc sử dụng các trình chặn (interceptor) trên các sự truy cập trường hoặc các cuộc gọi phương thức, thêm các việc thực hiện giao diện hỗn hợp vào các lớp hiện có và nhiều hơn nữa. JBossAOP được gắn vào trong phiên bản máy chủ ứng dụng JBoss hiện đang được phát triển, nhưng cũng có sẵn như là một công cụ độc lập để sử dụng với các ứng dụng của bạn ở ngoài của JBoss.
Phần tiếp theo cho loạt bài này xem xét Byte Code Engineering Library (BCEL- Thư viện kỹ thuật mã byte), một phần của dự án Jakarta của quỹ Apache Software. BCEL là một trong những khung công tác được sử dụng rộng rãi nhất cho các hoạt động lớp Java. Nó đưa ra cách làm việc rất khác nhau với bytecode từ cách tiếp cận Javassist mà chúng ta đã thấy trong ba bài viết gần đây, tập trung vào các hướng dẫn bytecode riêng hơn là làm việc ở mức mã nguồn, là sức mạnh của Javassist. Hãy xem tiếp với các chi tiết đầy đủ khi làm việc ở mức chương trình dịch hợp ngữ (assembler) bytecode vào tháng tới.
| Tên | Kích thước | Phương thức tải |
|---|---|---|
| j-dyn0302-source.zip | 310KB | HTTP |
- Xem phần còn lại của loạt bài Động lực học lập trình Java của Dennis
Sosnoski.
- Javassist được bắt nguồn từ Shigeru Chiba ở Bộ môn Toán và
Khoa học máy tính, trường đại học công nghệ Tokyo. Javassist gần đây
đã gia nhập dự án máy chủ ứng dụng JBoss mã nguồn mở, nó là cơ sở cho việc bổ sung thêm các tính
năng lập trình theo hướng-khía cạnh mới trong dự án đó. Hãy tải về bản
phát hành hiện tại của Javassist từ Trang các tệp dự án JBoss trên Sourceforge.
- Tìm thêm về việc thiết kế Java bytecode trong "Java bytecode: Hiểu bytecode giúp bạn trở thành một lập trình
viên tốt hơn" (developerWorks, 07.2001) của Peter
Haggar.
- Bạn có muốn tìm hiểu thêm về lập trình hướng-khía cạnh không? Hãy thử
"Cải thiện mô đun với việc lập trình theo hướng-khía cạnh"
(developerWorks. 01. 2002) của Nicholas Lesiecki với một
tổng quan về làm việc với ngôn ngữ AspectJ. Một bài báo gần đây, "AOP banishes the tight-coupling blues"
(developerWorks, 02.2004) của Andrew Glover chỉ ra cách một
trong những khái niệm thiết kế chức năng của AOP, sự chuyển động nhanh
tĩnh, có thể biến những gì có lẽ là một đống mã ghép chặt rối loạn
thành một ứng dụng doanh nghiệp mở rộng, mạnh mẽ.
- Dự án Jikes mã nguồn mở
cung cấp trình biên dịch phục tùng cao và rất nhanh cho ngôn ngữ lập
trình Java. Hãy sử dụng nó để tạo bytecode của bạn theo kiểu cũ --từ
mã nguồn Java.
- Duyệt các sách về các chủ đề kỹ thuật này và khác.
- Tìm thêm hàng trăm tài nguyên công nghệ Java trên vùng công nghệ Java của developerWorks.
Dennis Sosnoski là một nhà tư vấn và nhà trợ giúp đào tạo chuyên về các dịch vụ Web và SOA dựa trên-Java. Kinh nghiệm phát triển phần mềm chuyên nghiệp của ông trải suốt hơn 30 năm qua, với một thập kỉ cuối tập trung vào các công nghệ XML và Java phía máy chủ. Dennis là nhà phát triển hàng đầu về dụng cụ liên kết dữ liệu XML JiBX mã nguồn mở, cũng là một người có duyên nợ với khung công tác của các dịch vụ Web Apache Axis2. Ông cũng là một trong những thành viên của nhóm chuyên gia đặc tả kỹ thuật của Jax-WS 2.0 và JAXB 2.0. Xem trang web của ông để có thông tin về các dịch vụ đào tạo và tư vấn của ông.