Các tiêu chuẩn kỹ thuật trong giáo dục, Phần 2: Các tiêu chuẩn, các đặc tả và các giao thức của công nghệ học tập

Xem xét nội dung dựa trên các tiêu chuẩn trong các môi trường học ảo

Đây là bài thứ hai trong một loạt các bài viết thảo luận về các tiêu chuẩn kỹ thuật được sử dụng trong giáo dục. Bài viết này xem xét các tiêu chuẩn được sử dụng hiện nay và tác động của chúng lên các quá trình dạy và học trong các trường học và các doanh nghiệp. Các tiêu chuẩn thường được sử dụng phổ biến trong giáo dục là các tiêu chuẩn đóng gói nội dung như SCORM, IMS CP và Hộp chứa chung, tất cả được trình bày trong bài viết này.

Zoë Rose, Giám đốc dự án, Cambridge University Press

Zoë Rose làm việc về các công nghệ giáo dục cho nhà xuất bản của Đại học Cambridge. Cô được đào tạo làm giáo viên trung học trước khi chuyển sang xuất bản số cho các tạp chí học thuật và sau đó sang học trực tuyến. Zoë hiện là giám đốc dự án với vai trò của nhà xuất bản Đại học Cambridge trong dự án ASPECT. Các mối quan tâm chuyên môn của cô bao gồm các công nghệ siêu dữ liệu và tìm kiếm, khả năng sử dụng và khả năng truy cập các nội dung số



20 05 2011

Mở đầu

Hầu hết việc học trên các máy tính không đòi hỏi các tiêu chuẩn đặc biệt. Việc sử dụng máy tính để học là một phần thực chất của cuộc sống hằng ngày và là một cái gì đó mà hầu hết mọi người làm mỗi ngày. Mỗi lần một người đọc một bài viết trên một tờ báo trực tuyến hoặc đọc một bài viết đăng trên blog hoặc thực hiện một chức năng mới trong Microsoft® Excel®, thì người đó đang học.

Tuy nhiên, học trong trường và đào tạo tại nơi làm việc chính thức có các tính năng và các yêu cầu hơi khác nhau một chút trong đó chúng đòi hỏi các chức năng phân phối và đánh giá nội dung đích. Các tiêu chuẩn đóng gói nội dung được thiết kế để tạo thuận lợi cho việc này.

Câu hỏi về cách mọi người học có ý nghĩa cả về triết học lẫn thực tiễn và có những sự phân chia sâu sắc giữa các nhà giáo dục liên quan đến những cách tốt nhất để dạy các kỹ năng khác nhau. Các kiểu học tập, được nội dung đóng gói tạo điều kiện tốt nhất, đặc biệt là nội dung thích hợp với Mô hình tham chiếu đối tượng nội dung (SCORM), bị hạn chế theo các nội dung ở nơi dạy học và việc đánh giá hoàn toàn có thể được thực hiện trên máy tính, không có sự can thiệp của con người. Các nhà giáo dục coi trọng các hình thức học tập có tính xã hội và sáng tạo nhiều hơn thường tránh nội dung dựa vào các tiêu chuẩn.


Các nhu cầu học tập trong những môi trường khác nhau

Các tiêu chuẩn học trực tuyến (e-learning) được thiết kế để hỗ trợ việc học tập, do đó điều phải nghĩ đến đầu tiên luôn là người học. Dưới đây là ba người học giả định sử dụng công nghệ theo những cách khác nhau để đạt được các mục tiêu giáo dục của họ. Chúng ta sẽ nói đến những người học ví dụ này trong suốt bài viết này khi chúng ta thảo luận các tiêu chuẩn đóng gói nội dung khác nhau:

Jane (học tập không chính thức tại nơi làm việc)
Jane cần phải tính một vài tỷ lệ phần trăm cho một báo cáo. Thật không may, cô ấy đã quên cách để thu được tỷ lệ phần trăm rồi. Cô truy cập nhanh vào Wikipedia, học cách để tìm một tỷ lệ phần trăm và kết thúc báo cáo của mình. Tỷ lệ phần trăm do Jane tạo ra là chính xác, đó chính là điều cô ấy muốn. Việc học tập của cô đã thành công.
Sam (học tập tại trường)
Sam cần phải tính một số tỷ lệ phần trăm cho các bài tập về nhà của mình. Sam đăng nhập vào trang web của trường mình và mở ra một gói nội dung giáo dục đã được giáo viên thiết lập cho anh ta. Bài học này chỉ cho anh ta cách thu được tỷ lệ phần trăm, cung cấp cho anh ta một vài câu hỏi kiểm tra và sau đó là một bài kiểm tra. Sam vượt qua bài kiểm tra này, đó là điều mà anh ta (và giáo viên của anh) muốn. Ở một mức nào đó anh ta đạt được kết quả kiểm tra cần thiết, nên việc học tập của Sam cũng đã thành công.
Paula (học chính thức tại nơi làm việc)
Paula là một người quản lý tiếp thị đang đảm nhận việc đào tạo về cách phân tích dữ liệu bán hàng. Điều này liên quan đến việc học để thu được tỷ lệ phần trăm. Công ty của Paula đã triển khai thực hiện học trực tuyến bằng cách sử dụng các gói nội dung, vì vậy trải nghiệm học tập của Paula theo chức năng cũng đầy đủ giống như việc học tập của Sam. Việc học của cô cũng thành công.

Cái gì là các tiêu chuẩn cho việc học tập này

Phần lớn các tiêu chuẩn công nghệ giáo dục là các tiêu chuẩn đóng gói nội dung được thiết kế để tạo thuận lợi cho hai hoạt động bổ sung:

  1. Học.
  2. Đánh giá.

Trong ví dụ trên, Jane đã học thành công cách tính được tỷ lệ phần trăm bằng cách đọc Wikipedia. Tuy nhiên, Wikipedia không có phương tiện đánh giá xem Jane có tính được tỷ lệ phần trăm thành công hay không sau khi đọc bài báo hoặc cũng không thể xác định Jane có đúng là Jane không. Jane kiểm soát toàn bộ việc học tập của mình — là người duy nhất quyết định những gì Jane cần học (và cách học) là Jane.

Mặt khác, Sam và Paula đã chọn việc học tập cho mình, Sam do giáo viên của anh ta và Paula do người hướng dẫn của cô ta. Ví dụ, giáo viên của Sam cần hướng dẫn cho Sam theo hướng anh ta cần học và sau đó theo dõi xem Sam đã học hay vẫn chưa học thành công những gì anh ta được yêu cầu phải học không. Lúc điều này xảy ra, môi trường học tập của Sam phải có khả năng làm nhiều việc hơn là việc chỉ cung cấp nội dung. Môi trường học tập phải:

  1. Xác định Sam có đúng là Sam không.
  2. Hướng dẫn cho Sam các tài liệu học tập mà anh ta cần sử dụng và các đánh giá mà anh ta cần thực hiện (các nhiệm vụ).
  3. Để Sam thực hiện các nhiệm vụ.
  4. Thu thập thông tin về việc Sam đã thực hiện các nhiệm vụ tốt như thế nào.
  5. Xác định giáo viên của Sam có đúng là giáo viên của Sam không.
  6. Cung cấp các thông tin thu thập được cho cả Sam và giáo viên của Sam, mà không cho bất kỳ ai khác.

Tuy nhiên, kịch bản này chỉ áp dụng cho một trải nghiệm học tập một mình. Cả Sam và giáo viên của anh ta sẽ thu được lợi ích lớn hơn nếu việc học tập và đánh giá của Sam không chỉ bao gồm bài học về tỷ lệ phần trăm này, mà còn toàn bộ lớp toán của Sam trong học kỳ đó. Để điều này diễn ra cần bổ sung thêm các chức năng sau:

  1. Thu thập thông tin về việc Sam đã thực hiện xong nhiều nhiệm vụ tốt như thế nào.
  2. Cung cấp các thông tin thu thập được ở một mức độ tổng hợp cho cả Sam và giáo viên của Sam, nhưng không cho bất kỳ ai khác.

Đóng gói nội dung và trường hợp cho tính tương thích

Dựa vào một số các tính năng và các chức năng khác nhau mà một đối tượng học tập một mình (một nguồn tài nguyên số có thể được sử dụng và sử dụng lại để hỗ trợ việc học tập) cần hỗ trợ, thật không khả thi để duy trì một kiểu tệp đơn làm tiêu chuẩn cho các đối tượng học tập. Để hiểu được xung quanh vấn đề này, nội dung học tập dựa trên tiêu chuẩn thường được triển khai thành các gói nội dung, trong đó có dạng các tệp nén zip. Để đạt được kết quả học tập của mình, cả Sam và Paula cần sử dụng các gói nội dung.

Khẩu hiệu chính trên tất cả các tiêu chuẩn đóng gói nội dung hiện nay là tính tương thích: tạo ra nội dung có thể được sử dụng và sử dụng lại trong nhiều môi trường khác nhau. Một gói nội dung dựa trên tiêu chuẩn có thể được sử dụng thành công trong một môi trường học tập nên có khả năng sử dụng trong các môi trường học tập khác.

Những lợi ích lớn nhất của tính tương thích với việc học tập là:

  • Giảm chi phí, do tài nguyên được tạo một lần.
  • Có các khả năng lớn hơn để phát hiện và sử dụng lại nội dung trên mọi tổ chức thông qua việc sử dụng các kho lưu trữ nội dung.

Tính tương thích cho việc học tập khác với các loại khác tính tương thích khác trong đó nó đòi hỏi các chức năng không được hỗ trợ bởi các công nghệ hàng ngày như các trình duyệt. Tự trình duyệt không thể nhận biết một người sử dụng (ví dụ, Sam) và cũng không nhận ra mối quan hệ giữa những người sử dụng (Sam và giáo viên của Sam), cũng không liên kết các quyền hạn khác nhau với những người sử dụng (giáo viên của Sam có thể giới thiệu tài liệu học tập mới, nhưng Sam không thể).

Vì lý do này, các tiêu chuẩn đóng gói nội dung hiện nay được thiết kế để chạy trong các môi trường đã có các chức năng này. Hầu hết các môi trường này đều là các môi trường học ảo (các VLE).

Các VLS

Các VLE dựa trên web và mỗi bản cài đặt của VLE là riêng biệt cho một tổ chức duy nhất. Ví dụ, trường của Sam và công ty của Paula mỗi nơi sẽ có VLE riêng của họ. Điều cơ bản nhất của họ là các VLE cung cấp:

  • Quản lý các sinh viên, ví dụ như các danh sách lớp.
  • Phân phối nội dung học tập cho các sinh viên, ví dụ như đọc các danh sách và nội dung dựa trên các tiêu chuẩn.
  • Các chức năng đánh giá, chẳng hạn như cung cấp các bài kiểm tra cho các sinh viên, lưu trữ kết quả của các bài tập đánh giá do các sinh viên đã thực hiện xong và thu thập các bài làm do sinh viên gửi tới.

Các VLE tinh vi hơn cũng cung cấp các tính năng như các diễn đàn và các blog được lưu trữ trên máy chủ, mặc dù nó đưa tới từng tổ chức riêng để quyết định cách họ muốn cấu hình VLE của mình và các tính năng mà họ chọn để sử dụng.

Các VLE cũng được gọi là các hệ thống quản lý học tập (các LMS), và có nhiều điểm tương đồng với các hệ thống quản lý nội dung tiêu chuẩn (các CMS). Các LMS được sử dụng bởi các trường học, trường đại học và các tổ chức kết hợp học trực tuyến vào trong các chương trình đào tạo của họ.

Cả hai VLE mã nguồn mở và sở hữu độc quyền đều rất phổ biến. Blackboard là VLE sở hữu độc quyền phổ biến nhất và Moodle là tùy chọn mã nguồn mở phổ biến nhất (xem phần Tài nguyên).

Những hạn chế của tính tương thích và các gói nội dung

Các gói nội dung không dễ sử dụng. Đối với giáo viên của Sam để cung cấp thành công một gói nội dung cho Sam, cô giáo phải tìm thấy nó, biết nó dùng để làm gì, tìm cách nhập khẩu nó về VLE của cô ta, nhập khẩu nó và sau đó triển khai nó. Có rất nhiều bước, đặc biệt là dựa vào đó cô giáo không thể xem trước được gói đó có phù hợp không trước khi nhập khẩu nó: gói nội dung đó sẽ không chạy bên ngoài VLE này.

Một vấn đề nữa về tính tương thích của các tiêu chuẩn đóng gói nội dung là chúng vẫn chưa tương thích đầy đủ. Có một số tiêu chuẩn cạnh tranh với việc đóng gói nội dung và không phải mọi VLE sẽ hỗ trợ tất cả tiêu chuẩn. Đối với giáo viên của Sam đây có thể là một vấn đề đáng kể, vì có thể rất khó tìm và triển khai nội dung mà VLE sẽ nhận ra. Giáo viên của Sam có thể tìm thấy gói hoàn hảo cho lớp của Sam, nhưng nếu nó không đúng tiêu chuẩn cho VLE đó, nó sẽ không chạy.

Người hướng dẫn của Paula không có khả năng gặp phải vấn đề này. Công ty của Paula sẽ chắc chắn đã thuê một nhà thiết kế bài giảng, người sẽ tạo ra các gói nội dung thích hợp cho công ty theo các yêu cầu của VLE này.

Tuy nhiên, các gói nội dung là tài sản trí tuệ của công ty. Điều đó có nghĩa là, với công ty của Paula, may mắn thay tính tương thích không quan trọng và xấu nhất tính tương thích là nguy cơ tiềm ẩn khi các gói nội dung luôn được tải về và bị một đối thủ cạnh tranh chiếm đoạt.

Những hạn chế của các VLE

Các VLE là nguồn gốc của một số cuộc tranh luận trong cộng đồng dạy và học. Mô hình VLE đã được khoảng mười tuổi và nhiều tính năng của VLE đã không được thay đổi đáng kể kể từ khi chúng được phát triển lần đầu. Các VLE có thể được xem như là 'các khu vườn có tường bao quanh' — thật khó để liên kết vào và thoát ra khỏi một VLE và nhiều phần tử chức năng xã hội đã trở nên phổ biến trên các trang web lại không có sẵn. Một số người dùng phàn nàn về các vấn đề tiện lợi và nhiều giáo viên sẽ lựa chọn sử dụng công nghệ không-VLE nếu nó có sẵn.


Các tính năng kỹ thuật của các gói nội dung

Hiện có bốn tiêu chuẩn có thể được sử dụng để xác định một gói nội dung:

  • Đóng gói nội dung IMS (IMS CP).
  • SCORM 1.2.
  • SCORM 2004.
  • Hộp chứa chung của IMS (IMS CC).

Mỗi gói nội dung phải được lưu giữ như là một tệp nén zip và phải có:

  1. Nội dung học tập — có thể ở định dạng bất kỳ (ví dụ, hình ảnh động Flash, video hoặc PDF).
  2. Các hướng dẫn về cách triển khai nội dung học tập.

Các biến thể trong số các tiêu chuẩn đóng gói nội dung có liên quan với cách viết các hướng dẫn và sự phức tạp của các tương tác mà chúng hỗ trợ.

Các gói nội dung độc lập

IMS CP, SCORM 1.2 và SCORM 2004 cơ bản có một sự khác biệt chủ yếu với IMS CC là chúng hoàn toàn độc lập. IMS CC được thiết kế riêng không phải độc lập; các tính năng đặc biệt của nó sẽ được thảo luận sau trong bài viết này. IMS CP là hình thức cơ bản nhất của việc đóng gói nội dung. Nó cũng là một gói nội dung mà cả ba gói nội dung khác đều đều dựa vào. Gói nội dung SCORM 1,2 , SCORM 2004 và Hộp chứa chung tất cả có thể được xem như là các biến thể của IMS CP cơ bản.

Các gói nội dung IMS CP và SCORM cơ sở là bất khả trị về định dạng. Chúng không phụ thuộc vào các ngôn ngữ tạo kịch bản lệnh phía máy chủ cũng như không phụ thuộc vào các tệp bên ngoài hoặc các URL. (Xem phần Tài nguyên để có một liên kết đến trang web các giải pháp JCA có chứa thông tin về SCORM). Ngoài loại tiêu chuẩn này, gói nội dung cũng phải có:

  1. Một tệp bản kê (manifest) (có tên là imsmanifest.xml).
  2. Tất cả các tệp lược đồ và các tệp định nghĩa được tệp bản kê tham chiếu.
  3. Nội dung — tất cả các tệp tài nguyên được tệp bản kê tham chiếu.

Bản kê của IMS chứa các lệnh thông báo cho VLE biết cách triển khai nội dung. Mỗi tệp trong gói nội dung phải được được tệp bản kê tham chiếu và mọi tệp được tham chiếu trong tệp bản kê phải được chứa trong các gói nội dung.

Đối với người sử dụng, đây là những tính năng vô hình. Giáo viên của Sam và người hướng dẫn của Paula sẽ không bao giờ thấy bản kê của IMS khi họ sử dụng đối tượng. Cấu trúc của gói nội dung xác định một giới hạn cụ thể để tạo ra một vấn đề có ảnh hưởng đến giáo viên của Sam hơn là người hướng dẫn của Paula. Cấu trúc này làm cho việc chỉnh sửa gói nội dung vô cùng khó khăn, có nghĩa là giáo viên của Sam sẽ không thể tùy chỉnh nội dung cho các nhu cầu của lớp mình.

Tệp bản kê là một tệp XML (xem Hình 1). Nó chứa một số phần tử và các thuộc tính bắt buộc và một số tùy chọn. Phần tử mức cao nhất là <manifest>.

Hình 1. Mô hình dữ liệu của tệp imsmanifest.xml, như được mô tả trong tài liệu đặc tả IMS CP 1.1.4
Mô hình dữ liệu của tệp imsmanifest.xml, như được mô tả trong tài liệu đặc tả IMS CP 1.1.4

Có 3 phần tử con có thể trong phần tử <manifest>. Đó là:

  • <resources> Phần tử này định nghĩa các tệp tạo thành các phần học tập của gói nội dung — các phần tử này sẽ được chỉ ra cho người học trong quá trình học tập. Có hai loại tài nguyên: Các đối tượng nội dung có thể chia sẻ được (SCO) và Các tài sản.
    • SCOs Các SCO là các phần của đối tượng học tập, hoặc các tệp đơn lẻ hoặc các nhóm các tệp được gộp lại để giao tiếp với VLE — ví dụ, để trả về các kết quả kiểm tra.
    • Assets Các tài sản là các tệp tĩnh được trình bày cho người học, nhưng không giao tiếp với VLE. Một phiếu công tác PDF trong đối tượng học tập sẽ là một tài sản, như sẽ là một JPG chứa một biểu tượng được tham chiếu bởi các SCO.
  • <organizations> Các tổ chức đưa ra tài nguyên theo thứ tự, để cho có thể trình bày chúng cho người học theo trình tự dự kiến. Có thể có nhiều tổ chức có cùng tài nguyên, mặc dù thông thường, một đối tượng SCORM sẽ chỉ có một, là đối tượng mặc định.
    Thông qua VLE, người hướng dẫn của Paula và giáo viên của Sam có thể chọn tổ chức nào mà họ chọn cho các sinh viên của mình.
  • <metadata> Siêu dữ liệu đề cập đến "thông tin về thông tin". Siêu dữ liệu đóng một vai trò quan trọng trong khả năng khám phá nội dung; thông qua siêu dữ liệu để người học có thể tìm thấy nội dung mới trong các kho lưu trữ nội dung. Theo dạng cơ bản nhất của mình, phần tử siêu dữ liệu cần mô tả lược đồ của gói nội dung (ví dụ, SCORM của ADL) và phiên bản lược đồ (ví dụ, ấn bản thứ 3 2004). Siêu dữ liệu phức tạp hơn để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm được định nghĩa trong tiêu chuẩn Siêu dữ liệu đối tượng học (LOM) (xem phần Tài nguyên).

Hạn chế của siêu dữ liệu

Công ty của Paula không chắc quan tâm đến siêu dữ liệu có thể tìm kiếm được, vì việc phát hành nội dung học tập của họ ra ngoài công ty không nằm trong lợi ích của họ. Tuy nhiên, đối với giáo viên của Sam, siêu dữ liệu có thể tìm kiếm được là cách tốt nhất để tìm các gói nội dung và sử dụng lại chúng như những người tạo nên đã mong đợi.

Vì siêu dữ liệu bao gồm cả dữ liệu dựa trên tiêu chuẩn và dữ liệu nhúng, nên không thể tìm được gói nội dung bằng cách sử dụng các máy tìm kiếm như Google. Để tìm kiếm LOM, đối tượng nội dung phải được lưu trữ trong một kho lưu trữ có khả năng đọc LOM.

LOM là một phần tìm kiếm duy nhất của một gói nội dung; không có tài sản hoặc các SCO nào được lập chỉ mục. Tuy nhiên, cho đến nay việc các nhà sản xuất nội dung chấp nhận LOM vẫn còn bị hạn chế và khả năng tìm kiếm vẫn còn là một vấn đề

SCORM

SCORM là viết tắt của Mô hình tham chiếu đối tượng nội dung có thể chia sẻ được (Shareable Content Object Reference Model). Nó không phải là một tiêu chuẩn duy nhất, mà là một bộ sưu tập các tiêu chuẩn và các đặc tả. Nó định nghĩa truyền thông giữa nội dung phía máy khách và VLE.

SCORM hiện đang được Advanced Distributed Learning (ADL), một chi nhánh của quân đội Hoa Kỳ tài trợ. Tuy nhiên, nhiều tổ chức đã có vai trò trong việc định nghĩa SCORM. Các tổ chức này bao gồm:

  • AICC — Uỷ ban Đào tạo dựa trên máy tính của ngành công nghiệp hàng không.
  • IEEE LTSC — Viện thuộc Uỷ ban các tiêu chuẩn công nghệ học tập của các kỹ sư điện và điện tử.
  • Liên minh học tập toàn cầu của IMS (IMS GLC) — Một tổ chức phi lợi nhuận dành riêng cho các tiêu chuẩn học trực tuyến.

Trong tháng 11 năm 2010, Phần mềm Rustici đã thông báo rằng họ đã có sự hỗ trợ của ADL để nghiên cứu về tương lai của SCORM. Có khả năng là phiên bản tiếp theo của SCORM sẽ được ra mắt bằng công việc của họ (xem phần Tài nguyên để biết thêm thông tin).

SCORM 1.2 và SCORM 2004

SCORM có hai biến thể có ưu thế hơn: SCORM 1.2 cũ hơn và SCORM 2004 mới hơn. Mỗi một biến thể trong số này có nhiều phiên bản (phiên bản hiện hành của SCORM 2004 là ấn bản thứ 4 của SCORM 2004).

Hai SCORM không có khả năng tương thích: một VLE có thể chạy SCORM 1.2 sẽ không nhất thiết có thể chạy SCORM 2004 và ngược lại.

SCORM 1.2

SCORM 1.2 là tiền thân của SCORM 2004. Có thêm rất nhiều gói nội dung SCORM 1.2 (hoặc các đối tượng học tập) hiện có hơn SCORM 2004 và nhiều VLE vẫn còn được cấu hình để chỉ chạy SCORM 1.2, nhưng tiêu chuẩn này không còn được ADL hỗ trợ nữa.

SCORM 1.2 bao gồm hai đặc tả:

  • Mô hình tập hợp nội dung định nghĩa cách đóng gói nội dung để được nhập khẩu vào một VLE.
  • Môi trường thời gian chạy định nghĩa cách chạy nội dung sau khi được khởi chạy trong VLE này.

Để thích ứng với SCORM, một VLE phải cài đặt một API có tám chức năng. (Một tổng quan về các chức năng này có thể được tìm thấy tại trang phần mềm Rustica — xem phần Tài nguyên để biết thêm thông tin). API được bộ điều hợp API, triển khai thực hiện, bộ này kiểm soát tất cả các truyền thông giữa đối tượng nội dung và VLE đó (chẳng hạn như liệu người học đã đạt đến cuối bài học hay chưa). Bằng cách này, VLE điều khiển hành vi của gói nội dung.

VLE lần lượt dựa vào một người, như giáo viên của Sam hay người hướng dẫn của Paula, để ra lệnh cho nó cần làm gì. Việc thiếu đào tạo về cách sử dụng các VLE có thể cản trở giai đoạn này của tiến trình.

SCORM 2004

SCORM 2004 phức tạp hơn SCORM 1.2. Các tài liệu đặc tả có 3000 trang. Nó vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi như mong đợi.

Giống như SCORM 1.2, SCORM 2004 bao gồm một mô hình tập hợp nội dung và một môi trường thời gian chạy, nhưng nó có một đặc tả bổ sung mà SCORM 1.2 không có. Đây là đặc tả tuần tự và chuyển hướng.

Đặc tả tuần tự bổ sung thêm khả năng cho hai gói nội dung SCORM 2004 để giao tiếp hiệu quả với nhau, thông qua VLE. Ví dụ, khi người học hoàn tất một khóa học SCORM 2004 thành công, gói nội dung có thể giao tiếp với VLE đã được khoá học đó thông qua và VLE nên triển khai gói nội dung SCORM 2004 tiếp theo. Chức năng này rất có ích khi cần đào tạo kỹ thuật trình độ cao. Ví dụ, trong trường hợp huấn luyện các phi công lái máy bay, điều cần thiết là mỗi phi công có tiềm năng có thể chứng tỏ rằng họ hiểu chức năng của tất cả các nút trong buồng lái và những người hướng dẫn cho họ có bằng chứng cho thấy họ đã làm được. Tuy nhiên, trong các môi trường không dựa trên đào tạo, không dựa vào kỹ thuật, chức năng này hiếm khi cần thiết và không được sử dụng thường xuyên. Đặc biệt giáo viên của Sam sẽ có khả năng dùng đánh giá riêng của mình về sự tiến bộ của Sam nhiều hơn là so sánh với kết quả theo trình tự các gói SCORM 2004.

Hộp chứa chung

Hộp chứa chung (Common Cartridge) là tiêu chuẩn đóng gói nội dung mới nhất trong các tiêu chuẩn đóng gói nội dung. Được phát hành vào cuối năm 2009, nó được IMS phát triển mà không có sự tham gia của ADL. Không giống như hai phiên bản của SCORM, Hộp chứa chung hỗ trợ các tiêu chuẩn IMS như QTI 1.2 và LTI. Tính tương thích của bài kiểm tra trắc nghiệm (QTI) là một tiêu chuẩn kiểm tra của IMS có thể được triển khai để đánh giá sinh viên và Tính tương thích của các công cụ học tập (LTI) là một tiêu chuẩn IMS khác cho phép các công cụ và nội dung từ xa được tích hợp vào trong một VLE, tránh sự hạn chế đóng gói độc lập đặt trên SCORM một cách hiệu quả.

Hộp chứa chung cũng cung cấp các liên kết web và các diễn đàn, có lẽ sẽ hấp dẫn với giáo viên của Sam. Bước này hướng tới chức năng xã hội vẫn chưa được SCORM thực hiện. Chưa rõ liệu Hộp chứa chung sẽ được chấp nhận rộng rãi hay không hoặc liệu nhiều VLE sẽ có thể sử dụng nó được không, nhưng những phát triển ví dụ như một người chơi gần đây do Icodeon tạo ra cho thấy có triển vọng.


Kết luận

Các tính năng mạnh nhất của các tiêu chuẩn đóng gói nội dung cũng là những thứ đã cản trở việc chấp nhận của chúng. Một đối tượng nội dung đơn có thể chứa nhiều tài liệu học tập rất tốt, nhưng chỉ với các hình thức học tập khá hạn chế. Khi được cấu hình đúng, các VLE có thể cung cấp một trải nghiệm học tập xuất sắc thông qua các gói nội dung, có lợi cho cả sinh viên lẫn giáo viên hoặc người hướng dẫn của họ. Đáng tiếc là sự thiếu tương thích giữa các tiêu chuẩn đóng gói khác nhau có nghĩa là việc nhập nội dung vào một VLE có thể rất khó khăn hoặc không thể thực hiện được. Tùy thuộc vào các VLE để triển khai nội dung có một thêm một mặt trái nữa là các giáo viên và các tổ chức không có quyền truy cập vào VLE không thể sử dụng tài liệu giáo dục được lưu giữ trong các gói nội dung.

Phần mềm cần thiết cho các gói nội dung của tác giả, đặc biệt là các gói SCORM thường phức tạp, khó học và tốn kém. Vì lý do này, một vài giáo viên đã tạo ra nội dung học tập dựa trên các tiêu chuẩn riêng của họ. Do đó, những người tạo và các nhà xuất bản nội dung không nhất thiết phải hiểu các nhu cầu của một nhóm lớp cụ thể để sản xuất phần lớn nội dung học tập.

Vẫn chưa nhận thấy được liệu Hộp chứa chung và sự lặp lại tiếp theo của SCORM sẽ có thể vượt qua những vấn đề này không, nhưng khi tính nhất quán nổi lên trên tất cả các tiêu chuẩn, thì giá trị của chúng cũng lộ ra.

Khi bắt đầu bài viết này, tác giả đã mô tả ba người học giả định. Mặc dù cô ấy chưa bao giờ được đề cập lại một lần nữa, thật đáng giá để nhớ rằng người học không chính thức, Jane, vẫn còn là loại người học phổ biến nhất và cô ấy đạt được kết quả học tập tốt mà không cần sử dụng các tiêu chuẩn. Tuy nhiên, đối với những người học như Sam và Paula, các chức năng tiên tiến được các tiêu chuẩn cung cấp có thể rất hiệu quả trong việc đạt được các kết quả học tập mong muốn.

John Casey (trang Digitalinsite) và Gareth Waller (Phần mềm AGW) đã phát triển những phác thảo ban đầu cho loạt bài viết này.

Tài nguyên

Học tập

  • Dự án ASPECT: Thông qua Các tiêu chuẩn và Các đặc tả kỹ thuật cho Nội dung giáo dục là một dự án do EU tài trợ với mục tiêu cải thiện việc sử dụng các tiêu chuẩn trong học trực tuyến. ASPECT được kết hợp với Đài quan sát các tiêu chuẩn công nghệ học tập (LTSO), cũng do EU tài trợ.
  • Siêu dữ liệu của Đối tượng học tập (LOM)): Tìm thêm thông tin về tiêu chuẩn này do Uỷ ban các tiêu chuẩn Công nghệ học tập của IEEE (LTSC) tài trợ.
  • Cổng thông tin Trao đổi tài nguyên học tập (LRE): Xem lại cổng thông tin mở này cho các trường học có nội dung giáo dục dựa trên các tiêu chuẩn bằng nhiều ngôn ngữ châu Âu.
  • Mạng lưới học tập toàn cầu (GGfL): Truy cập vào kho lưu trữ dựa vào-thanh toán này thuộc sở hữu của Nhà xuất bản của Đại học Cambridge (CUP) có chứa nhiều nội dung giáo dục cho các trường học, bao gồm nội dung dựa trên các tiêu chuẩn.
  • Trang web IMS: Tìm các tiêu chuẩn và đặc tả kỹ thuật được Liên minh học tập toàn cầu IMS tài trợ.
  • Thư mục sản phẩm của Công nghệ học tập và giáo dục: Hãy tham khảo thư mục IMS này có ghi lại các sản phẩm đã đạt được các dấu hợp chuẩn với các tiêu chuẩn khác nhau.
  • Liên minh về tính tương thích của Các công cụ học và hộp chứa chung: Xem xét việc gia nhập liên minh này, do IMS điều hành, nếu bạn quan tâm đến sự phát triển của hoặc Tính tương thích Các công cụ học tập hoặc Tính tương thích Hộp chứa chung.
  • Hệ thống kiểm tra Hộp chứa chung: Sử dụng hệ thống kiểm tra miễn phí để thực hiện bài kiểm tra riêng của bạn về các hộp chứa cho phù hợp với đặc tả của Hộp chứa chung IMS v1.0.
  • Nền tảng Hộp chứa chung Icodeon: Tìm hiểu thêm về sự phát triển về các cách thú vị để khai thác nội dung Hộp chứa chung mà không cần dựa vào các VLE.
  • Trang web ADL: Tìm tài liệu và bộ kiểm tra cho ấn bản thứ 4 của SCORM 2004. ADL không còn hỗ trợ SCORM 1.2 nữa, nhưng một tổng quan kỹ thuật toàn diện có sẵn thông qua phần mềm Rustici.
  • Các sản phẩm có chứng chỉ SCORM: Khám phá danh sách các sản phẩm đã đạt được chứng chỉ SCORM thông qua Chương trình cấp chứng chỉ SCORM của ADL.
  • Đám mây SCORM: Các tác giả SCORM bất kỳ, người vẫn chưa yêu cầu chứng chỉ đầy đủ, có thể kiểm tra hoặc xem trước các đối tượng SCORM của mình bằng cách sử dụng đám mây SCORM của Phần mềm Rustici. Đám mây này cũng có thể được sử dụng để cung cấp nội dung cho người học mà không cần sử dụng một VLE.
  • Phần mềm JCA : Tập hợp nội dung SCORM : Tìm hiểu thêm từ tổng quan này về các gói nội dung độc lập.
  • Hộp dự án: Tìm cả hai thông tin về việc nghiên cứu đang được tiến hành trong phiên bản tiếp theo của SCORM và các cơ hội đóng góp.
  • LETSI: Khám phá thêm các cuộc thảo luận về tương lai của các tiêu chuẩn học trực tuyến đang được triển khai tại Liên đoàn quốc tế về tính tương thích của các hệ thống Học tập, Giáo dục và Đào tạo.
  • imsmanifest.xml: Xem Mô hình khái niệm đóng gói nội dung IMS và các thông tin chi tiết về tệp imsmanifest.xml như được mô tả trong tài liệu đặc tả IMS CP 1.1.4.
  • JISC: cung cấp cơ sở hạ tầng, hướng dẫn và hỗ trợ cho việc sử dụng công nghệ trong giáo dục trung học và giáo dục bổ túc của Vương quốc Anh.
  • Sáng kiến siêu dữ liệu Dublin Core là một tiêu chuẩn được sử dụng chung cho siêu dữ liệu mô tả.
  • Blackboard phát triển và cấp phép cho các ứng dụng phần mềm và các dịch vụ liên quan cho nhiều tổ chức giáo dục.
  • Trang MITs OpenCourseware hoặc Apple's U: kho mở cho các tài nguyên giáo dục.
  • Các ngành công nghiệp developerWorks của IBM: Xem trang web này với tất cả các tài nguyên kỹ thuật mới nhất cụ thể cho ngành công nghiệp dành cho các nhà phát triển.
  • developerWorks podcasts: Nghe các cuộc phỏng vấn và các cuộc thảo luận thú vị dành cho các nhà phát triển phần mềm.
  • Các sự kiện kỹ thuật và Webcast của developerWorks: Theo sát với các sự kiện kỹ thuật và Webcast của developerWorks.

Lấy sản phẩm và công nghệ

  • Phần mềm dùng thử của IBM: Đánh giá các sản phẩm phần mềm của IBM theo phương pháp phù hợp với bạn nhất. Từ các bản tải về dùng thử đến các sản phẩm lưu trữ trên đám mây, developerWorks mô tả phần mềm đặc biệt dành cho các nhà phát triển.

Thảo luận

Bình luận

developerWorks: Đăng nhập

Các trường được đánh dấu hoa thị là bắt buộc (*).


Bạn cần một ID của IBM?
Bạn quên định danh?


Bạn quên mật khẩu?
Đổi mật khẩu

Bằng việc nhấn Gửi, bạn đã đồng ý với các điều khoản sử dụng developerWorks Điều khoản sử dụng.

 


Ở lần bạn đăng nhập đầu tiên vào trang developerWorks, một hồ sơ cá nhân của bạn được tạo ra. Thông tin trong bản hồ sơ này (tên bạn, nước/vùng lãnh thổ, và tên cơ quan) sẽ được trưng ra cho mọi người và sẽ đi cùng các nội dung mà bạn đăng, trừ khi bạn chọn việc ẩn tên cơ quan của bạn. Bạn có thể cập nhật tài khoản trên trang IBM bất cứ khi nào.

Thông tin gửi đi được đảm bảo an toàn.

Chọn tên hiển thị của bạn



Lần đầu tiên bạn đăng nhập vào trang developerWorks, một bản trích ngang được tạo ra cho bạn, bạn cần phải chọn một tên để hiển thị. Tên hiển thị của bạn sẽ đi kèm theo các nội dung mà bạn đăng tải trên developerWorks.

Tên hiển thị cần có từ 3 đến 30 ký tự. Tên xuất hiện của bạn phải là duy nhất trên trang Cộng đồng developerWorks và vì lí do an ninh nó không phải là địa chỉ email của bạn.

Các trường được đánh dấu hoa thị là bắt buộc (*).

(Tên hiển thị cần có từ 3 đến 30 ký tự)

Bằng việc nhấn Gửi, bạn đã đồng ý với các điều khoản sử dụng developerWorks Điều khoản sử dụng.

 


Thông tin gửi đi được đảm bảo an toàn.


static.content.url=http://www.ibm.com/developerworks/js/artrating/
SITE_ID=70
Zone=Nguồn mở
ArticleID=659986
ArticleTitle=Các tiêu chuẩn kỹ thuật trong giáo dục, Phần 2: Các tiêu chuẩn, các đặc tả và các giao thức của công nghệ học tập
publish-date=05202011