Các ứng dụng có tính sẵn sàng cao trong Đám mây của IBM

Làm thế nào để bảo vệ một ứng dụng mức sản xuất, cho phép hoạt động trong đám mây khỏi bị lỗi trên một nút bất kỳ

Những tính năng mới của IBM® Cloud (Đám mây của IBM) cho phép các nhà phát triển và các kiến trúc sư ứng dụng loại trừ các điểm lỗi đơn lẻ trong các ứng dụng. Bài viết này cung cấp một hướng dẫn chi tiết về các tính năng đó. Nó bao gồm một cuộc thảo luận về cách tiếp cận mà các Đám mây của IBM có (có thêm sự hỗ trợ cho các địa chỉ IP ảo); cách chuẩn bị các cá thể đám mây của bạn để tận dụng lợi thế của tính năng này; cách thiết lập một trang web có tính sẵn sàng cao; và cách thử nghiệm trang web đó.

Dima Rekesh, Thành viên nhóm kỹ thuật cao cấp, IBM w3 Architecture and Development

Dima là một thành viên của nhóm Sáng kiến doanh nghiệp chiến lược về Điện toán đám mây của IBM. Trước đây, ông đã làm việc trên một số nền tảng ứng dụng Web quy mô lớn, các công nghệ mới nổi, cũng như lãnh đạo các trung tâm dữ liệu và các chiến lược trung tâm dữ liệu xanh.



Alan Robertson, Nhà tư vấn về tính sẵn sàng cao, IBM Australia

Alan đã thành lập dự án Linux-HA nguồn mở và là một chuyên gia nổi tiếng quốc tế về các hệ thống có tính sẵn sàng cao. Ông là một diễn giả thường được mời về tính sẵn sàng cao và Linux.



28 06 2011

IBM® Smart Business Development and Test on the IBM Cloud (Phát triển và thử nghiệm nghiệp vụ thông minh của IBM trên Đám mây của IBM) là một môi trường linh hoạt mở rộng và cung cấp sẵn để mang lại cho các khách hàng doanh nghiệp tất cả mọi thứ mà họ cần để phát triển, thử nghiệm và lưu trữ trên các ứng dụng máy chủ. Nó bao gồm một cổng thông tin web để cấu hình và quản lý tài nguyên đám mây, các hình ảnh phần mềm của các sản phẩm IBM khởi đầu các nỗ lực phát triển và thử nghiệm và các API cho phép những người dùng kiểm soát tài nguyên đám mây và phần mềm theo lập trình. Và các nhóm công tác của IBM vẫn đang bổ sung thêm các tính năng mới kể từ buổi đầu ra mắt Đám mây của IBM được thiết kế để cung cấp thêm tính linh hoạt và khả năng phục hồi.

Tính nhanh nhẹn hơn và tính linh hoạt được cải thiện nhiều hơn — giúp điều chỉnh cấu trúc mạng ứng dụng của bạn với các yêu cầu nghiệp vụ theo thời gian thực — đi kèm với một thỏa thuận: Một sự suy giảm về tính tương thích với các môi trường đám mây của các tính năng như tính sẵn sàng cao (HA).

Tính sẵn sàng cao, sự yêu cầu để bảo vệ một ứng dụng mức sản xuất khỏi lỗi của nút bất kỳ, không phải là một khái niệm mới theo bất kỳ tiêu chuẩn nào; nhiều sản phẩm phần mềm giải quyết thách thức này. Nhưng nói chung hầu hết các sản phẩm này không tương thích với đám mây; hầu hết các nhà cung cấp đám mây công cộng không cung cấp chức năng cần thiết.

Với suy nghĩ đó, các khách hàng cần bổ sung thêm cho các việc triển khai đám mây của mình với các ý tưởng về tính sẵn sàng cao đang tồn tại bên ngoài đám mây. Trong bài viết này, bạn sẽ thấy những gì mà IBM đã thực hiện với đám mây của mình để giải quyết vấn đề này và cách bạn có thể cung cấp tính năng đó:

  • Chúng tôi sẽ thảo luận về cách tiếp cận mà Đám mây của IBM có (đã bổ sung thêm sự hỗ trợ cho các địa chỉ IP ảo).
  • Chúng tôi sẽ chỉ cho bạn cách chuẩn bị các cá thể đám mây của bạn để tận dụng tính năng này.
  • Trong một ví dụ, chúng tôi sẽ chỉ cho bạn cách thiết lập một trang web có tính sẵn sàng cao.
  • Và chúng tôi sẽ chỉ cho bạn cách thử nghiệm trang web đó.

Sự hỗ trợ địa chỉ IP ảo an toàn, thích hợp

Để giải quyết các mối quan tâm về HA một cách an toàn và thích hợp, các kỹ sư Đám mây của IBM đã bổ sung thêm sự hỗ trợ cho các địa chỉ IP ảo (vIP) trên các cá thể ảo của Đám mây IBM. Mặc dù có nhiều phương pháp để cung cấp dịch vụ sẵn sàng cao (xem phần Tài nguyên), các phương pháp phổ biến và mạnh mẽ nhất của các dịch vụ này là sử dụng các IP ảo.

Ngoài một địa chỉ IP tĩnh thông thường (mỗi cá thể nhận một địa chỉ khi được cung cấp và nó không bao giờ thay đổi), một cá thể có thể chiếm động một hoặc một số địa chỉ IP ảo bổ sung. Vì nó là mã ứng dụng đang chạy trong các cá thể điều khiển sự liên kết giữa các IP ảo và các cá thể, nên cấu trúc mạng ứng dụng có thể điều chỉnh rất nhanh theo một lỗi nút, trong dải con thứ hai.

Hãy xem xét ví dụ đơn giản này. Có một cặp các máy ảo VM AVM B có địa chỉ IP tĩnh tương ứng là 192.168.1.101 và 192.168.1.102. Ngoài ra, cả hai máy ảo được cấu hình để cho phép phân bổ động địa chỉ IP ảo 192.168.1.10 (Hình 1).

Hình 1. Máy ảo A và máy ảo B có các IP tĩnh riêng và có thể chiếm một IP ảo
Máy ảo A và máy ảo B có các IP tĩnh riêng và có thể chiếm một IP ảo

Trong cấu hình này, các địa chỉ IP tĩnh được dùng để quản lý và duy trì các cá thể. Ngược lại, địa chỉ IP ảo được trưng ra cho các khách hàng làm địa chỉ IP máy chủ.

Ban đầu, Máy ảo A giữ IP ảo và do vậy, xử lý tất cả lưu lượng dịch vụ. Máy ảo B khởi động và chạy, nhưng không có IP ảo và hoạt động như là một máy dự phòng ấm (Hình 2).

Hình 2. Cấu hình chủ động/thụ động : Máy ảo A giữ IP ảo và phục vụ tất cả lưu lượng; máy ảo B hoạt động như một máy dự phòng thụ động
Cấu hình chủ động/thụ động : Máy ảo A giữ IP ảo và phục vụ tất cả lưu lượng; máy ảo B hoạt động như một máy dự phòng thụ động

Bây giờ chúng ta hãy tưởng tượng xem ứng dụng phát hiện ra một vấn đề với máy ảo A. Có lẽ nó đang cảm thấy giảm tốc độ hoặc có lỗi. Ứng dụng này quyết định chuyển giao quyền điều khiển IP ảo cho máy ảo khác. Bây giờ, máy ảo B phục vụ tất cả lưu lượng trong khi máy ảo A, trước khi được sửa chữa, từ bỏ IP ảo và trở thành máy dự phòng ấm (Hình 3).

Hình 3. Cấu hình chủ động/thụ động: các máy ảo hoán đổi vai trò
Cấu hình chủ động/thụ động: các máy ảo hoán đổi vai trò

Vì địa chỉ IP ảo có thể được chuyển đổi giữa các máy ảo trong dải con thứ hai, bằng cách lập trình cẩn thận bạn có thể làm giảm đáng kể hoặc loại bỏ hầu như bất kỳ sự ngừng chạy tiềm ẩn nào, di chuyển địa chỉ IP tại dấu hiệu có lỗi đầu tiên. Thật đơn giản, đây là một phương pháp đã được chứng minh và một phương pháp mà môi trường Đám mây của IBM hỗ trợ.

Bây giờ hãy xem xét việc chuẩn bị các cá thể của bạn để tận dụng lợi thế này.


Chuẩn bị các cá thể của bạn có tính sẵn sàng cao

Sau đây là ba bước để chuẩn bị một cá thể trong Đám mây của IBM tận dụng lợi thế của phương pháp địa chỉ IP ảo để mang lại tính sẵn sàng cao.

Nhận một địa chỉ IP dữ trữ chưa cấp phát

Hãy chắc chắn rằng bạn có một địa chỉ IP dữ trữ chưa cấp phát. Đăng nhập vào cổng thông tin Đám mây của IBM và nhấn vào thẻ Account (Tài khoản). Di chuyển xuống phần các IP của bạn để xem danh sách các IP dự trữ. Hãy đảm bảo có ít nhất một địa chỉ chưa sử dụng tại các trung tâm dữ liệu lựa chọn của bạn, nếu không, hãy nhấn vào Add IP (Thêm IP) và chờ địa chỉ IP mới có sẵn để sử dụng (Hình 4).

Hình 4. Bảng địa chỉ IP dự trữ của cổng thông tin Đám mây của IBM
Bảng địa chỉ IP dự trữ của cổng thông tin Đám mây của IBM

Cung cấp các cá thể của bạn

Bây giờ bạn chỉ cần cung cấp các cá thể của bạn. Hãy chọn hình ảnh lựa chọn của bạn và trên màn hình sau đây, hãy nhấn vào nút Add IP, cạnh phần Virtual IP (IP ảo) và chọn một trong các địa chỉ IP chưa sử dụng (Hình 5).

Hình 5. Hộp thoại cung cấp cá thể Đám mây của IBM này cho phép bạn gán một IP ảo cho cá thể của bạn
Hộp thoại cung cấp cá thể Đám mây của IBM này cho phép bạn gán một IP ảo cho cá thể của bạn

Lưu ý rằng địa chỉ IP ảo cần nằm trong trung tâm dữ liệu giống như cá thể mà bạn đang gán cho nó. Nhấn vào Close (Đóng) và hoàn tất các yêu cầu cung cấp.

Ngay khi được cấp, ban đầu mỗi cá thể sẽ chỉ chiếm lấy địa chỉ IP tĩnh của nó. Lưu ý rằng địa chỉ IP tĩnh của một cá thể được gắn với giao diện mạng eth0 trong khi các IP ảo, nếu được lựa chọn trong quá trình cung cấp, được gán cho các giao diện eth0, eth1, v.v.., theo thứ tự mà chúng được chọn.

Liên kết một IP ảo với một cá thể

Ở bất kỳ thời gian nào trong vòng đời của một cá thể, bạn có thể sử dụng lệnh sudo /sbin/ifup <interface name> để kết hợp một địa chỉ IP ảo với một cá thể. Lệnh sudo /sbin/ifdown <interface name> sẽ tách nó ra.

Theo cách này, tại một thời điểm chỉ có một cá thể có thể sở hữu một địa chỉ IP ảo. Đám mây của IBM không hỗ trợ nhiều luồng, do đó việc gán một địa chỉ IP cho nhiều máy ảo chỉ sẽ dẫn đến nhiều xung đột mà thôi.

Ví dụ, giả sử một cá thể đã nhận được một địa chỉ IP tĩnh đã gán cho hệ thống là 170.224.163.231 và một địa chỉ IP ảo là 170.224.163.161. / Etc/sysconfig/network-scripts/ifcfg-eth0 sẽ cho bạn biết thêm về cấu hình của giao diện chính:

DEVICE=eth0
TYPE=Ethernet
BOOTPROTO=static
HWADDR=DE:AD:BE:A7:13:52
IPADDR=170.224.163.231
NETMASK=255.255.240.0
ONBOOT=yes
GATEWAY=170.224.160.1

So sánh cái đó với các nội dung của tệp /etc/sysconfig/network-scripts/ifcfg-eth1:

DEVICE=eth1
TYPE=Ethernet
BOOTPROTO=static
HWADDR=DE:AD:BE:C8:25:20
IPADDR=170.224.163.161
NETMASK=255.255.240.0
ONBOOT=no

Ban hành lệnh sudo /sbin/ifup eth1 để kết hợp 170.224.163.161 với cá thể đó và lệnh sudo /ifdown eth1 để tách nó ra. Nếu bạn muốn nhận được địa chỉ IP này vào lúc khởi động, bạn chỉ cần thay đổi mệnh đề ONBOOT thành yes trong tệp /etc/sysconfig/network-scripts/ifcfg-eth1.


Thiết lập một trang web có tính sẵn sàng cao (HA)

Trong ví dụ này, chúng ta sẽ kết hợp vào một cấu trúc mạng đơn giản gồm hai máy chủ ủy quyền được cấu hình theo cấu hình HA chủ động/thụ động và ba máy chủ ứng dụng web (như trong Hình 6):

Hình 6. Một cấu trúc mạng đơn giản ở đó có một cặp của máy ủy quyền dự phòng, thiết lập theo cấu hình chủ động/thụ động, chia lưu lượng cho ba máy chủ web
Một cấu trúc mạng đơn giản ở đó có một cặp của máy ủy quyền dự phòng, thiết lập theo cấu hình chủ động/thụ động, chia lưu lượng cho ba máy chủ web

Cấu hình phần mềm sau đây được dùng cho ví dụ này:

  • Các máy chủ ủy quyền đang chạy nginx.
  • Tính sẵn sàng cao cho các máy chủ ủy quyền do phần mềm Linux HA và Pacemaker cung cấp.
  • Các máy chủ web đang chạy Apache (được cài đặt sẵn như là một phần ảnh hệ điều hành cơ bản).
  • Tất cả cá thể Đám mây của IBM dùng ảnh RHEL 5.4 bronze 64-bit cơ bản.
  1. Khi sử dụng cổng thông tin Đám mây của IBM, bạn cần phải cung cấp tất cả năm cá thể. Hãy chắc chắn dự trữ và cấp phát một IP ảo cho cặp các nút ủy quyền như được mô tả ở trên trong bài viết này.
  2. Cấu hình các cá thể ủy quyền. Tất cả các bản tải về có sẵn trong phần Tài nguyên.
  3. Bạn cần một vài điều kiện tiên quyết:
    sudo yum -y install glib2-devel libxml2 libxml2-devel bzip2 bzip2-devel pcre-devel
  4. Cài đặt nginx (tương tự như sau):
    wget http://nginx.org/download/nginx-0.8.53.tar.gz
    tar -xvfz nginx-0.8.53.tar.gz
    cd nginx-0.8.53
    ./configure -with-http_ssl_module
    make
    sudo make install
  5. Để thêm các quy tắc ủy quyền cơ bản vào nginx, chỉnh sửa tệp /usr/local/nginx/conf/nginx.conf và theo hướng máy chủ, thêm như sau (sử dụng địa chỉ IP thực của các máy chủ ứng dụng):
    upstream appservers {
       ip_hash;
       server appserver1_ip;
       server appserver2_ip;
       server appserver3_ip;
        	}
  6. Điều quan trọng là có thời gian thích hợp trên tất cả các máy chủ, vì thế bảo đảm chắc chắn ntpd khởi động tự động:
    sudo /sbin/chkconfig --level 2345 ntpd on
    sudo /sbin/service ntpd start
  7. Cài đặt các gói Linux-HA và Pacemaker. Hãy chắc chắn rằng các kho lưu trữ Clusterlabs (Pacemaker) và EPEL có sẵn. Với RHEL 5.4, đưa ra hai lệnh sau:
    sudo rpm -Uvh \
    http://download.fedora.redhat.com/pub/epel/5/i386/epel-release-5-4.noarch.rpm
    sudo wget -O \
    /etc/yum.repos.d/pacemaker.repo http://clusterlabs.org/rpm/epel-5/clusterlabs.repo

    Sau đó cài đặt Pacemaker và các gói cần thiết:
    sudo yum install -y pacemaker heartbeat
  8. Bạn cần một kịch bản lệnh tương thích để quản lý máy chủ nginx, vì thế hãy cài đặt tác nhân tài nguyên nginx. Kịch bản lệnh này đã được gửi tới dự án Linux-HA và cuối cùng sẽ được cung cấp tự động. Cho đến khi điều đó xảy ra, hãy sử dụng lệnh sau:
    sudo wget -O /usr/lib/ocf/heartbeat/resource.d/nginx \
    http://lists.linux-ha.org/pipermail/linux-ha-dev/attachments/20101206/3c141ea6/
          attachment.txt
  9. Bạn phải cung cấp cấu hình thích hợp cho phần mềm Heartbeat trong dự án Linux-HA. Đối với Đám mây của IBM, cần cấu hình tất cả giao tiếp xảy ra bằng cách sử dụng truyền dẫn đơn luồng (gửi các thông báo đến một đích đến của mạng đơn được xác định bằng một địa chỉ duy nhất). Đó là lý do tại sao bạn đã cài đặt tầng giao tiếp Heartbeat.

    Để cấu hình tầng giao tiếp Heartbeat, có ba tệp khác nhau cần cấu hình: /etc/ha.d/ha.cf, /etc/ha.d/authkeys, và /etc/logd.cf.

    • Tất cả các máy cần phải có một bản sao chính xác của tệp /etc/ha.d/ha.cf . Để cấu hình, thêm những dòng sau:
      use_logd yes
      ucast eth0 cluster1-fixed-ip
      ucast eth0 cluster2-fixed-ip # repeat for all cluster nodes
      autojoin any
      crm on

      Cần lưu ý rằng bạn phải sử dụng phương thức giao tiếp ucast khi chạy Đám mây của IBM do nó không hỗ trợ giao tiếp quảng bá hoặc đa luồng. Điều này ngăn bạn khỏi sử dụng Corosync như tầng giao tiếp của bạn; nó đòi hỏi giao tiếp đa luồng hay quảng bá. Các địa chỉ "IP cố định" phải có là địa chỉ thực (không ảo) của các máy chủ. Đặt một dòng cho mỗi máy chủ.
    • Mỗi máy tính cũng cần có một bản sao của tệp /etc/ha.d/authkeys, nó phải ở chế độ 0600. Sử dụng phương thức này để tạo ra bản sao đầu tiên, sau đó sao chép tệp này đến tất cả các nút khác trong cụm:
      cat <<-!AUTH >/etc/ha.d/authkeys
      auth 1
      	1 sha1 'dd if=/dev/urandom count=4 2>/dev/null | openssl dgst -sha1`
      	!AUTH
    • Cuối cùng, cấu hình /etc/ha.d/logd.cf với dòng sau: logfacility daemon.
  10. Do cấu hình Pacemaker sau khi nó đang chạy sẽ đơn giản hơn, nên chúng ta sẽ trì hoãn việc cấu hình đó về sau này.
  11. Hãy chắc chắn rằng Heartbeat khởi động tự động bằng mã này:
    sudo /sbin/chkconfig --levels 345 heartbeat on
  12. Cấu hình tường lửa ban đầu có một chút hạn chế, do đó, hãy thêm một vài quy tắc vào /etc/sysconfig/iptables:
    # allow pings
    -A INPUT -p icmp --icmp-type any -j ACCEPT
    # on the virtual IP address, allow only ports 80 and 443.  
    -A INPUT -d virtual_ip -m tcp -p tcp --dport 80 -j ACCEPT
    -A INPUT -d virtual_ip -m tcp -p tcp --dport 443 -j ACCEPT
    -A INPUT -d virtual_ip  -j REJECT --reject-with icmp-host-prohibited
    
    # allow ssh on the service IPs
    -A INPUT -p tcp -m tcp --dport 22 -j ACCEPT
    
    # allow heartbeat port
    -A INPUT -p udp -m udp --dport 694 -j ACCEPT
  13. Sau khi hoàn thành các việc chỉnh sửa, hãy khởi động lại tường lửa:
    sudo /sbin/service iptables restart
  14. Các máy chủ web đòi hỏi có sự lưu ý về cấu hình một chút. Trước tiên, hãy chắc chắn rằng Apache khởi động tự động:
    sudo /sbin/chkconfig -level 345 httpd on
    sudo /sbin/service httpd start

    Bây giờ, hãy mở cổng 80 và 443 trong /etc/sysconfig/iptables:

    -A INPUT -p tcp -m tcp --dport 80 -j ACCEPT
    -A INPUT -p tcp -m tcp --dport 80 -j ACCEPT

    Một khi bạn đã làm điều đó, hãy khởi động lại tường lửa: sudo /sbin/service iptables restart. Bảo đảm chắc chắn ntpd cũng khởi động tự động theo các nút này:

    sudo /sbin/chkconfig --level 2345 ntpd on
    sudo /sbin/service ntpd start

Bạn đã thiết lập xong tất cả. Bây giờ hãy thử nghiệm hệ thống.


Thử nghiệm hệ thống

Để kiểm tra hệ thống:

  1. Khởi động Heartbeat (sẽ khởi động Pacemaker) trên tất cả các nút trong cụm.
  2. Cấu hình Pacemaker bằng lệnh crm.
  3. Kiểm tra xem mọi thứ đã bắt đầu chính xác chưa.
  4. Thử nghiệm cấu hình. Thực hiện một số chuyển đổi tài nguyên dự phòng lỗi cơ bản.

Khởi động Heartbeat

Để khởi động Heartbeat, đưa ra lệnh service heartbeat start. Một khi khởi động nó, bạn sẽ thấy một số lượng lớn các quá trình trông tương tự như sau:

ha_logd: read process
ha_logd: write process
heartbeat: master control process
heartbeat: FIFO reader
heartbeat: write: ucast some-ip-address
heartbeat: read: ucast some-ip-address
/usr/lib/heartbeat/ccm
/usr/lib/heartbeat/cib
/usr/lib/heartbeat/lrmd -r
/usr/lib/heartbeat/stonithd
/usr/lib/heartbeat/attrd
/usr/lib/heartbeat/crmd
/usr/lib/heartbeat/pengine

Khi xem các quá trình đó, bạn biết rằng Heartbeat và Pacemaker đang chạy.

Cấu hình Pacemaker

Để cấu hình Pacemaker, chỉnh sửa cấu hình trực tiếp nhờ sử dụng lệnh crm configure edit, lệnh này mở một trình soạn thảo văn bản. Hãy chèn các dòng sau vào tệp cấu hình ngay trước câu lệnh property ở cuối tập tin:

primitive nginx-primitive ocf:heartbeat:nginx \
 op monitor interval="5s" timeout="120s" \
 OCF_CHECK_LEVEL="0" \
 op monitor interval="10s" timeout="120s" \ 
 OCF_CHECK_LEVEL="10" \
 params configfile="/etc/nginx/stci.d/nginx.conf"
primitive nginx-ipaddr ocf:heartbeat:IPaddr2 \
 op monitor interval="5s" timeout="120s"\
 params ip="NGINX-IP-ADDRESS"
primitive NFS-server lsb:nfs-kernel-server
primitive NFS-ipaddr ocf:heartbeat:IPaddr2 \
 op monitor interval="5s" timeout="120s"\
 params ip="NFS-IP-ADDRESS"
group nginx-group nginx-primitive nginx-ipaddr
group NFS-group NFS-server NFS-ipaddr
clone nginx-clone nginx-group \
        meta clone-max="1"

Kiểm tra quá trình khởi động

Sau khi bạn lưu lại cấu hình Pacemaker, hệ thống đã khởi động tài nguyên của bạn và đã truyền cấu hình mới này đến tất cả các nút trong hệ thống. Đây là phần thú vị. Nếu bạn kiểm tra các bản ghi hệ thống, bạn sẽ thấy các thông báo về các dịch vụ đang được khởi động và v.v.. Để xem trạng thái hệ thống HA, hãy chạy lệnh sudo crm_mon. Điều này chỉ cho bạn các tài nguyên nào đang chạy, các nút nào đang lên hoặc xuống trong cụm và v.v..

Kiểm tra cấu hình

Lệnh crm_mon cho bạn thấy nút nào đang chạy nginx. Có một số phương pháp để kiểm tra cấu hình này; chúng ta nên thử tất cả. Một cụm mà không qua kiểm tra kỹ lưỡng sẽ không có tính sẵn sàng cao:

  • Ban hành một lệnh sudo service heartbeat stop trên nút hoạt động; hãy xem nơi mọi thứ đã dịch chuyển đến, sau đó khởi động lại nó.
  • Thực hiện một lệnh sudo reboot -f trên vào nút chủ động, sau đó xem (từ một nút khác), nơi tài nguyên di chuyển đến.
  • Ban hành một lệnh sudo crm node standby trên nút chủ động, xem nơi mà các dịch vụ đi tới, sau đó đưa ra một lệnh sudo crm node online.

Lệnh này hoàn thành quá trình cài đặt và thử nghiệm dịch vụ ủy quyền nginx của bạn. Linux cũng cung cấp một bộ cân bằng tải mức nhân có sẵn có thể được dùng và tạo ra tính sẵn sàng cao thay cho nginx.


Kết luận

Một tập kỹ thuật giống nhau được giới thiệu trong bài viết này có thể được sử dụng để làm cho hầu như bất kỳ dịch vụ nào cũng có tính sẵn sàng cao trong đám mây; ví dụ, một máy chủ NFS có tính sẵn sàng cao trong Đám mây của IBM bao gồm việc sao chép dữ liệu giữa các máy chủ đám mây ảo.

Bài viết này mô tả chi tiết cách tiếp cận Đám mây của IBM có tính sẵn sàng cao (có bổ sung thêm sự hỗ trợ cho các địa chỉ IP ảo); đã giải thích cách chuẩn bị các cá thể đám mây của bạn để tận dụng lợi thế của tính năng IP ảo; đã đưa ra một ví dụ về cách thiết lập một trang web có tính sẵn sàng cao và mô tả cách thử nghiệm trang web đó.

Tài nguyên

Học tập

Lấy sản phẩm và công nghệ

  • HA cho các ủy quyền trong bài viết này được cung cấp bởi:
    • Dự án Linux-HA [Tìm hiểu] duy trì một tập các khối xây dựng với các hệ thống cụm có tính sẵn sàng cao [Tải về Heartbeat | Tải về Cluster Glue | Tải về các tác nhân tài nguyên].
    • Để có ích cho người dùng, trình tiện ích Heartbeat cần được kết hợp với một trình quản lý tài nguyên cụm (CRM) —Pacemaker.
    • Các gói bổ sung cho Enterprise Linux (EPEL) là một nỗ lực cộng đồng dựa trên tình nguyện từ dự án Fedora để tạo ra một kho lưu trữ các gói bổ sung chất lượng cao cho bản Linux cho doanh nghiệp Red Hat (RHEL) và các sản phẩm phụ tương thích của nó [Tìm hiểu | Tải về].

Thảo luận

Bình luận

developerWorks: Đăng nhập

Các trường được đánh dấu hoa thị là bắt buộc (*).


Bạn cần một ID của IBM?
Bạn quên định danh?


Bạn quên mật khẩu?
Đổi mật khẩu

Bằng việc nhấn Gửi, bạn đã đồng ý với các điều khoản sử dụng developerWorks Điều khoản sử dụng.

 


Ở lần bạn đăng nhập đầu tiên vào trang developerWorks, một hồ sơ cá nhân của bạn được tạo ra. Thông tin trong bản hồ sơ này (tên bạn, nước/vùng lãnh thổ, và tên cơ quan) sẽ được trưng ra cho mọi người và sẽ đi cùng các nội dung mà bạn đăng, trừ khi bạn chọn việc ẩn tên cơ quan của bạn. Bạn có thể cập nhật tài khoản trên trang IBM bất cứ khi nào.

Thông tin gửi đi được đảm bảo an toàn.

Chọn tên hiển thị của bạn



Lần đầu tiên bạn đăng nhập vào trang developerWorks, một bản trích ngang được tạo ra cho bạn, bạn cần phải chọn một tên để hiển thị. Tên hiển thị của bạn sẽ đi kèm theo các nội dung mà bạn đăng tải trên developerWorks.

Tên hiển thị cần có từ 3 đến 30 ký tự. Tên xuất hiện của bạn phải là duy nhất trên trang Cộng đồng developerWorks và vì lí do an ninh nó không phải là địa chỉ email của bạn.

Các trường được đánh dấu hoa thị là bắt buộc (*).

(Tên hiển thị cần có từ 3 đến 30 ký tự)

Bằng việc nhấn Gửi, bạn đã đồng ý với các điều khoản sử dụng developerWorks Điều khoản sử dụng.

 


Thông tin gửi đi được đảm bảo an toàn.


static.content.url=http://www.ibm.com/developerworks/js/artrating/
SITE_ID=70
Zone=Nguồn mở
ArticleID=696195
ArticleTitle=Các ứng dụng có tính sẵn sàng cao trong Đám mây của IBM
publish-date=06282011