Thay đổi hành vi ứng dụng: Từ trong nhà lên đám mây

Đưa một ứng dụng trung tâm dữ liệu lên đám mây: chủ động, không đối phó

Thông thường, các doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ cần đưa ứng dụng khách truyền thống hay ứng dụng khách-chủ của họ chạy hết sức tốt trong đơn vị để chúng chạy tốt trong một môi trường đám mây. Để làm như vậy, họ cần thực hiện các thay đổi hành vi chủ động cho ứng dụng trước khi di trú nó lên đám mây. Trong bài này, trước hết tác giả nói về cơn ác mộng đang phải đối phó, đưa ra các ví dụ về các thay đổi hành vi chủ động cho ứng dụng và sau đó đề xuất cách bạn có thể tiếp tục chủ động khi di trú ứng dụng.

Judith M. Myerson, Kiến trúc sư và kỹ sư hệ thống, IBM

Judith M. Myerson là một kiến trúc sư và kỹ sư hệ thống. Các lĩnh vực quan tâm của cô bao gồm hệ thống toàn doanh nghiệp, các công nghệ phần mềm trung gian, các công nghệ cơ sở dữ liệu, điện toán đám mây, các chính sách ngưỡng, các ngành công nghiệp, quản lý mạng, bảo mật, các công nghệ RFID, quản lý trình diễn và quản lý dự án.



29 06 2012

Phát triển kỹ năng về chủ đề này

Nội dung này nằm trong "đường dẫn đến kiến thức (knowledge path)" để bổ sung các kỹ năng của bạn. Xem Điện toán đám mây: Các điều cơ bản

Trong ứng dụng được thiết kế tốt, một trạng thái của chức năng ứng dụng sẽ di chuyển thông suốt và nhanh chóng sang trạng thái của chức năng khác. Ứng dụng luôn sẵn sàng, không bị các gián đoạn (hoặc tối đa, không nhạy cảm) trừ trường hợp ngừng hoạt động theo kế hoạch để bảo trì.

Chắc chắn, nhà phát triển quyết định di trú ứng dụng lên một môi trường đám mây. Theo kịch bản này, nhà phát triển không chủ động. Để chuẩn bị di trú, nhà phát triển thực hiện một số thay đổi cho ứng dụng, chẳng hạn như thêm một hộp đăng nhập để cho phép người dùng có các thông tin thích hợp sử dụng ứng dụng; các thông tin này bao gồm người sử dụng có bao nhiêu quyền điều khiển đối với ứng dụng tùy thuộc vào kiểu dịch vụ đám mây mà anh ta thuê.

Nếu nhà phát triển di trú ứng dụng như Phần mềm là một Dịch vụ (SaaS), quyền điều khiển duy nhất mà người dùng có là truy cập ứng dụng từ một máy tính để bàn hoặc thiết bị di động để xử lý các nhiệm vụ kinh doanh như thanh toán và lập hóa đơn; trong sơ đồ này, người dùng không được phép kiểm soát hệ điều hành, phần cứng hoặc cơ sở hạ tầng mạng mà trên đó ứng dụng SaaS bất kỳ đang chạy. Chỉ có các nhà phát triển mới có thể xây dựng, triển khai, chạy và quản lý các bản nâng cấp và các bản vá lỗi cho tất cả các chức năng của ứng dụng.

Nếu nhà phát triển di trú ứng dụng như một phần của Nền tảng là một Dịch vụ (PaaS), người dùng có thể kiểm soát ứng dụng trong toàn bộ vòng đời kinh doanh của nền tảng này, thao tác những thứ như các bảng tính và xử lý bảng lương. Người dùng xác định cần thực hiện những thay đổi nào cho ứng dụng, (như thêm một tùy chọn cho một danh sách thả xuống do nhà phát triển cung cấp). Người dùng vẫn không được phép kiểm soát hệ điều hành, phần cứng hoặc cơ sở hạ tầng mạng.

Ngay sau khi nhà phát triển hoàn tất quá trình di trú, anh ta gặp phải các vấn đề về tính tương thích và hiệu năng. Tính sẵn sàng của thời gian hoạt động bắt đầu trượt xuống từ mức đảm bảo được quy định trong một thỏa thuận mức dịch vụ (SLA). Những người dùng la ó về việc đáp ứng của ứng dụng chậm hơn bình thường với các yêu cầu của họ về dữ liệu mà họ cần để đưa ra các quyết định kinh doanh quan trọng; những người dùng đã bị mất đi các cơ hội kinh doanh mới.

Phát điên lên vì các giải pháp nhanh, các nhà phát triển có thể trở thành đối phó.

Cơn ác mộng đang phải đối phó

Phát điên lên vì các giải pháp nhanh, các nhà phát triển có thể trở thành kẻ đối phó. Đầu tiên, anh ta dừng sản phẩm trong đám mây trong khi giả bộ đang bảo trì theo kế hoạch. Anh ta đưa ra một thông báo trên các trình duyệt của người dùng để nói rằng: "Dịch vụ tạm thời ngừng hoạt động. Xin vui lòng chờ." Sau đó, anh ta bắt đầu làm việc với ứng dụng trong nhà.

Cực nhanh, nhà phát triển nhận thấy rất khó để xác định vị trí mã mở rộng để đưa vào một danh sách thả xuống của các nhiệm vụ kinh doanh (ví dụ như để lập hoá đơn). Nhà phát triển phát hiện ra quá muộn là ứng dụng chạy hoàn toàn tốt trong nhà đã được một nhà phát triển trước đó viết như là một bộ mã dài dòng duy nhất chứ không phải là 500 phần mô đun.

Thật điên rồ, anh ta vá lỗi ứng dụng bằng một phần mô đun trên danh sách thả xuống, rồi thử nghiệm nó trong đám mây để xác định xem các cá thể tài nguyên được phân phối như nhau để chạy ứng dụng tốt đến mức nào. Anh ta phát hiện ra quá muộn là việc cân bằng tải không thành công; một cá thể tài nguyên đã đạt đến công suất tối đa bị hỏng. Các cá thể tài nguyên khác đã đạt đến 75% công suất tối đa của chúng, và không thể tiếp tục các giao dịch kinh doanh từ cá thể tài nguyên bị hỏng.

Trước khi di trú, nhà phát triển không đảm bảo mỗi cá thể tài nguyên được sử dụng ở mức 50% công suất của mình, sao cho nếu một cá thể tài nguyên bị hỏng, các cá thể tài nguyên khỏe mạnh vẫn sẽ tiếp tục.

Trong khi đó, những người dùng phàn nàn về công việc bảo trì kéo dài khi họ bắt đầu nghi ngờ nhà phát triển vẫn đang có vấn đề với ứng dụng đó. Những người dùng đòi hỏi các khoản tín dụng, hoàn lại tiền và nhiều tháng miễn phí để bù đắp cho việc thiếu dịch vụ theo quy định trong SLA. Họ yêu cầu cho phép họ được chấm dứt dịch vụ nếu dịch vụ không đạt yêu cầu vẫn xảy ra.

Tại thời điểm này nhà phát triển than vãn và rên rỉ rằng anh đã không làm hai việc trước khi di trú ứng dụng:

  • Anh ta đã không phân chia ứng dụng thành các phần mô đun.
  • Anh ta đã không đưa vào một cửa sổ ngưỡng tài nguyên trong ứng dụng để theo dõi cách sử dụng các cá thể tài nguyên.

Nhà phát triển đau lòng vì bị mất dịch vụ, mất người dùng và danh tiếng do anh ta đã không đưa vào các thay đổi hành vi chủ động ngay từ đầu. Câu chuyện trên sẽ khác đi giá như anh ta đã chủ động.


Các thay đổi hành vi chủ động

Nếu một nhà phát triển xem xét các thay đổi hành vi chủ động, anh ta có thể giữ cho những người dùng hiện tại của mình thoải mái, không hủy hoại danh tiếng của mình và nhận được các thuê bao mới.

Đầu tiên, anh ta kiếm một nhóm làm việc để giúp anh ta phân chia ứng dụng thành các mô đun, mỗi mô đun tập trung vào một thay đổi hành vi. Nhóm của anh ta thử nghiệm các mô đun ở nhà và kiểm tra với những người dùng để đảm bảo rằng các hành vi của mô đun đáp ứng được sự mong đợi của họ. Khi việc đó đã xong, anh ta di trú ứng dụng lên một kiểu dịch vụ đám mây.

Sau đây là hai ví dụ về mô đun mà nhóm làm việc có thể đưa vào trong ứng dụng:

  • Các nút điều khiển thả xuống.
  • Các cửa sổ ngưỡng thu nhỏ.

Mô đun các nút điều khiển thả xuống

Mô đun của các nút điều khiển danh sách thả xuống này cho phép người dùng lựa chọn trong một danh sách các giá trị loại trừ lẫn nhau trong danh sách đó. Bằng một cú nhấn chuột, một người dùng có thể chọn một và chỉ một tùy chọn mà thôi. Trong khi ấn giữ phím Ctrl, người dùng có thể lựa chọn nhiều tùy chọn trong danh sách. Với một danh sách thả xuống tiêu chuẩn, người dùng bị giới hạn lựa chọn trong danh sách đó, nhưng với một hộp kết hợp, người dùng có thể nhập một giá trị không có trong danh sách.

Một ví dụ là một danh sách thả xuống của các nhiệm vụ kinh doanh cần được kích hoạt:

  • Xử lý bảng lương
  • Bảng tính
  • Lập hóa đơn
  • Thanh toán

Nếu bạn chọn tùy chọn xử lý bảng lương, bạn sẽ nhận được ứng dụng kết nối nền sau với ứng dụng khác để bắt đầu xử lý bảng lương. Nếu bạn chọn tùy chọn bảng tính, một danh sách các bảng tính xuất hiện. Sau đó bạn chọn một bảng tính để xem và chỉnh sửa hoặc bạn có thể thêm một tờ bảng tính mới.

Nếu bạn chọn tùy chọn lập hoá đơn, một danh sách các hoá đơn xuất hiện. Sau đó bạn chọn một hoá đơn để xem và in. Bạn có thể đưa ra một biểu mẫu hóa đơn trống để điền vào và sau đó gửi nó cho một người nhận thông qua email. Nếu bạn chọn tùy chọn thanh toán, bạn chọn một tài khoản để xem và gửi thanh toán.

Nếu một giá trị không xuất hiện trong danh sách các lựa chọn và người dùng biết một công việc kinh doanh mới đã được thêm vào ứng dụng, ví dụ, anh ta có thể nhập vào, ít nhất là, invoicing2 trong hộp kết hợp.

Dưới đây là một danh sách thả xuống hiển thị bốn lựa chọn ngưỡng:

  • Tài nguyên
  • Người dùng
  • Yêu cầu dữ liệu
  • Bảng điều khiển

Nếu bạn chỉ chọn một tùy chọn bằng một cú nhấn chuột, một mô đun cửa sổ ngưỡng thu nhỏ (trong phần tiếp theo) đưa ra một cửa sổ để hiển thị ứng dụng đang thực hiện trên tùy chọn đó tốt đến mức nào.

Ví dụ, nếu bạn chỉ chọn tùy chọn tài nguyên, một cửa sổ thu nhỏ về cách sử dụng tài nguyên xuất hiện trên màn hình. Nếu sau đó bạn chỉ chọn tùy chọn người dùng, bạn sẽ thấy một cửa sổ thu nhỏ về tình trạng người sử dụng sẽ xuất hiện. Nếu bạn chọn hai tùy chọn đầu tiên, sử dụng phím CTRL với chuột để nhận được một cửa sổ thu nhỏ cho mỗi tùy chọn xuất hiện cạnh nhau. Chọn tùy chọn bảng điều khiển để hiển thị ba tùy chọn đầu tiên trong một cửa sổ, mỗi tùy chọn cho thấy một mức ngưỡng khác nhau.

Mô đun cửa sổ ngưỡng thu nhỏ

Mô đun này bật lên một cửa sổ thu nhỏ được kích hoạt bằng việc chọn một tùy chọn của bạn trong danh sách ngưỡng thả xuống. Cửa sổ đó hiển thị ứng dụng đang thực hiện theo thời gian thực tốt đến mức nào để đáp ứng một mức ngưỡng được nhà cung cấp thiết lập theo một chính sách ngưỡng thuộc một phần của SLA.

Nếu mô đun phát hiện ra ứng dụng đang thực hiện bằng hoặc thấp hơn mức ngưỡng có thể chấp nhận được, ứng dụng vẫn chạy theo kế hoạch, đảm bảo hoạt động liên tục. Nếu nó ở trên mức ngưỡng trong khi vẫn còn dưới mức tối đa, đó là một dấu hiệu là các hoạt động của ứng dụng có thể bị gián đoạn do có một điều gì đó giống như không đủ tài nguyên để hoàn thành một nhiệm vụ, những người dùng không thoát ra khỏi hệ thống khi đã thực hiện xong dịch vụ hoặc còn quá nhiều các yêu cầu dữ liệu trong hàng đợi.

Nếu gián đoạn kéo dài vài phần nghìn giây, thường không đáng chú ý theo đánh giá của con người, vẫn đảm bảo hoạt động liên tục.

Nếu bạn cảm thấy mức ngưỡng được đặt quá cao, bạn có thể cần liên hệ với nhà cung cấp về làm giảm mức đó đến một mức có thể chấp nhận được.

Câu hỏi tiếp theo để trả lời là "Tôi tiếp tục chủ động như thế nào?".


Cách bạn có thể tiếp tục chủ động

Sau khi các thay đổi thành công, ứng dụng bị kết buộc vào một môi trường đám mây, hãy chắc chắn bạn vẫn còn chủ động. Hãy tự hỏi mình các câu hỏi về:

  • Các chính sách ngưỡng.
  • Các hạn chế vốn có của các trình duyệt.
  • Tính trạng thái của ứng dụng.
  • Các kiểu cơ chế chuyển đổi dự phòng lỗi.
  • Các vấn đề bảo mật.

Các chính sách ngưỡng

Có ba kiểu chính sách ngưỡng được xem xét —tài nguyên, người dùngcác yêu cầu dữ liệu. Đối với mỗi kiểu chính sách, việc thử nghiệm ứng dụng có thể có một mức ngưỡng khác so với mức ngưỡng dùng cho sản xuất. Hãy sử dụng việc lập kế hoạch công suất trước thời hạn để chuẩn bị cho hệ thống của bạn triển khai thực hiện các chính sách ngưỡng.

Chính sách ngưỡng tài nguyên đảm bảo việc tiêu thụ tài nguyên được cân bằng động với các ứng dụng trong đám mây. Mức ngưỡng đó được thiết lập thấp hơn số lượng tối đa các cá thể tài nguyên bổ sung có thể được tiêu thụ. Khi việc tiêu thụ tài nguyên vượt quá mức ngưỡng đó trong lúc có một sự đột biến về các nhu cầu về tải làm việc, thì các cá thể tài nguyên bổ sung được phân phối. Khi nhu cầu quay trở lại bằng hoặc thấp hơn mức ngưỡng đó, các cá thể tài nguyên đã được tạo ra được giải phóng và dành cho việc sử dụng khác.

Chính sách ngưỡng của người dùng đảm bảo cho những người dùng có thể truy cập đồng thời ứng dụng lên đến giới hạn đã quy định trong giấy phép người dùng của nhà cung cấp. Ví dụ, giấy phép giới hạn đến 3.000 người dùng, nhưng chỉ cho phép tối đa 2.500 người dùng truy cập đồng thời và mức ngưỡng đó được thiết lập ở 2.000 người dùng đồng thời. Nếu số lượng người dùng ứng dụng đồng thời bằng hoặc thấp hơn mức ngưỡng đó, ứng dụng vẫn không ngừng cho rằng việc tiêu thụ tài nguyên và các yêu cầu dữ liệu thấp hơn hay bằng mức ngưỡng tương ứng của chúng.

Chính sách ngưỡng của yêu cầu dữ liệu đảm bảo các yêu cầu dữ liệu cho ứng dụng có thể được xử lý ngay lập tức. Mức ngưỡng này được thiết lập thấp hơn số lượng tối đa các yêu cầu dữ liệu và kích thước tối đa các yêu cầu dữ liệu mà những người dùng có thể gửi đồng thời. Nếu số lượng các yêu cầu dữ liệu vượt quá mức ngưỡng này, một thông báo sẽ bật lên để hiển thị có bao nhiêu yêu cầu dữ liệu đang xếp hàng chờ được xử lý.

Các hạn chế gắn liền với các trình duyệt

Nếu bạn đang sử dụng cả trình duyệt Mozilla Firefox lẫn Internet Explorer, bạn có biết Firefox tải trang nhanh hơn và sử dụng ít bộ nhớ hơn so với Internet Explorer không? Hạn chế chính của Firefox là nó có thể tắt hoặc dẫn đến đáp ứng chậm do sự không sẵn sàng của:

  • Tài nguyên bổ sung sau khi việc tiêu thụ tài nguyên đạt đến công suất tối đa của các cá thể tài nguyên.
  • Một hình nhỏ của các cửa sổ ngưỡng báo cho bạn biết khi nào việc tiêu thụ tài nguyên vượt quá mức ngưỡng.

Để khắc phục vấn đề này, hãy chắc chắn rằng việc tiêu thụ tài nguyên vẫn bằng hay thấp hơn mức ngưỡng và việc chuyển đổi dự phòng tình trạng dư thừa tài nguyên cá thể đang làm việc.

Nếu cửa sổ thu nhỏ cho thấy việc tiêu thụ tài nguyên đã vượt quá mức ngưỡng, nên:

  • Bật lên một thông báo cảnh báo về vượt quá mức tiêu thụ.
  • Yêu cầu bạn tắt trình duyệt hoặc có hệ thống thực hiện xóa tự động các quá trình firefox.exe và khởi động lại trình duyệt.

Tính trạng thái của các chức năng ứng dụng

Bạn có biết tính trạng thái của các chức năng ứng dụng đang thực hiện tốt đến mức nào không? Tính trạng thái đề cập đến một trạng thái của một chức năng ứng dụng đang chạy tốt đến mức nào khi nó chuyển sang trạng thái tiếp theo của các chức năng khác trong đám mây.

Trong ví dụ rất đơn giản này, khi ở trong đám mây trạng thái của chức năng xác nhận hợp lệ thông tin thẻ tín dụng được sử dụng để mua một món hàng bán lẻ cho mục đích kinh doanh cần chuyển nhanh sang trạng thái của chức năng gửi thông tin đến một tài khoản ngân hàng và sau đó chuyển nhanh sang trạng thái của chức năng thông báo cho khách hàng rằng món hàng bán lẻ đó đã được vận chuyển đến địa chỉ doanh nghiệp.

Nếu việc chuyển từ một trạng thái này sang trạng thái khác làm cho ứng dụng chạy trong đám mây chậm hơn trong nhà, hãy xem xét các nguyên nhân có thể sau:

  • Có các lỗi trong logic ứng dụng về việc xử lý các giao dịch kinh doanh.
  • Mức ngưỡng về tài nguyên, người dùng và/hoặc các yêu cầu dữ liệu đặt quá cao.
  • Các cá thể tài nguyên không hiệu quả dẫn đến tính trạng thái không thích hợp.
  • Những người dùng hoặc các yêu cầu dữ liệu cạnh tranh các cá thể tài nguyên giống nhau.

Các cơ chế chuyển đổi dự phòng

Các cơ chế chuyển đổi dự phòng đảm bảo tính liên tục hoạt động trong các sự kiện như các lỗi phần cứng đang đe dọa, sức ép về tài nguyên hoặc các sự giữ chậm trễ tiềm ẩn kéo dài. Các trường hợp ngoại lệ bao gồm thiên tai, dừng hoạt động để bảo trì theo kế hoạch của nhà cung cấp hoặc tuyến cáp quang bị đứt ngẫu nhiên.

Dưới đây là một số ví dụ về cơ chế chuyển đổi dự phòng cần xem xét:

  • Dư thừa chia sẻ tải: Hai hay nhiều hệ thống phải đảm nhận không quá 50% tổng tải. Khi một thiết bị hỏng, các thiết bị khác chọn lấy tải có mức ngưỡng thấp hơn hoặc không có sự gián đoạn hoặc không có các thay đổi nào về các mức ngưỡng.
  • Dư thừa tài nguyên cá thể: Hai hoặc nhiều cá thể tài nguyên phải đảm nhận không quá 50% tổng tải. Khi một cá thể tài nguyên hỏng, cá thể tài nguyên khác chọn lấy tải có mức ngưỡng thấp hơn hoặc không có các thay đổi nào về các mức ngưỡng.
  • Dư thừa hàng đợi các yêu cầu dữ liệu: Hai hoặc nhiều hàng đợi yêu cầu dữ liệu phải đảm nhận không quá 50% hàng đợi. Khi một hàng đợi hỏng, các hàng đợi khác chọn lấy tải có mức ngưỡng thấp hơn hoặc không có sự gián đoạn nào về các mức ngưỡng.
  • Thử lại kết nối thay thế: Nếu sự gián đoạn mạng bị kéo dài hơn hai phút, kết nối lại đến máy chủ vật lý hoặc máy ảo khác thông qua các kết nối mạng thay thế.

Các vấn đề bảo mật

Nếu công ty của bạn có doanh thu lớn hơn 1 tỷ Đô la Mỹ một năm, thì những đám mây riêng có thể có chi phí hiệu quả hơn so với các đám mây công cộng. Một đám mây nội bộ riêng có nhiều đặc điểm kinh doanh giống như một đám mây công cộng, nhưng có các mức quản trị về bảo mật, tính sẵn sàng và các cơ chế chuyển đổi dự phòng cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ có doanh thu thấp hơn 1 triệu Đô la Mỹ.

Một đám mây nội bộ riêng cho phép bạn lưu trữ và lấy dữ liệu từ các địa điểm đã biết theo thẩm quyền cụ thể (như Mỹ hay Canada). Nó phù hợp với việc lưu trữ dữ liệu nhạy cảm, tương thích, riêng tư và thử nghiệm của bạn.

Ngược lại, dữ liệu trong một đám mây công cộng có thể được lưu trữ tại các địa điểm không rõ và có thể không dễ lấy ra. Các địa điểm chưa biết là không phù hợp với việc lưu trữ dữ liệu nhạy cảm, tương thích, riêng tư và thử nghiệm.

Một vấn đề bảo mật nữa là liệu quản trị viên của nhà cung cấp có thể truy cập vào dữ liệu nhạy cảm, tương thích, riêng tư và thử nghiệm của bạn được lưu trữ tại các địa điểm cụ thể mà không có sự cho phép của bạn không. Vấn đề nữa là dữ liệu được lưu có thể nằm ở các khu vực địa lý nơi các quy định về riêng tư và tương thích khác với các quy định ở các nước bạn đã quen. Pháp luật có thể khác nhau giữa các nước về kiểm soát xuất khẩu dữ liệu.

Trước khi cấp phép, các trách nhiệm của quản trị viên cần được giải thích rõ trong hợp đồng về những gì anh ta có thể làm và không thể làm trong lúc truy cập dữ liệu của bạn, anh ta phải tuân theo pháp luật nào về xuất khẩu dữ liệu và anh ta phải thực hiện các chính sách nào về giảm nhẹ những rủi ro do tin tặc thiết lập các trung tâm Chỉ huy và Điều khiển (CNC) trong đám mây.

Tin tặc có các công cụ để phát hiện ra dữ liệu truyền đi từ máy tính để bàn của bạn đến các địa điểm không rõ và ngược lại. Các nền tảng PaaS vẫn được sử dụng làm các trung tâm CNC để điều khiển các hoạt động của một botnet để sử dụng trong các cuộc tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DDoS) và cài đặt các ứng dụng phần mềm độc hại trong đám mây. Tin tặc có thể sáng chế và triển khai các ứng dụng độc hại để:

  • Phân phối các cá thể tài nguyên độc hại.
  • Thiết lập lại các mức ngưỡng tới các giá trị cao không thực tế.
  • Thay đổi trạng thái của một chức năng ứng dụng sang trạng thái tiếp theo của các chức năng độc hại.

Kết luận

Việc thay đổi hành vi ứng dụng từ trong nhà đến đám mây đòi hỏi phải lập kế hoạch trước để giải quyết các vấn đề về tiếp tục chủ động trong việc thực hiện các thay đổi hành vi sau khi ứng dụng được di trú. Một nhóm các nhà phát triển, những người dùng và các nhà phân tích kinh doanh cần làm việc với nhau trong việc thiết lập các chính sách ngưỡng, khắc phục các hạn chế cố hữu của các trình duyệt, tùy chỉnh các cơ chế chuyển đổi dự phòng và xem xét các vấn đề bảo mật trong đám mây. Nhóm làm việc này sẽ tìm ra cách giải quyết các vấn đề làm cho công việc tiếp tục chủ động trong khi làm cho các thay đổi hành vi trở nên dễ dàng hơn nhiều.

Tài nguyên

Học tập

Lấy sản phẩm và công nghệ

Thảo luận

Bình luận

developerWorks: Đăng nhập

Các trường được đánh dấu hoa thị là bắt buộc (*).


Bạn cần một ID của IBM?
Bạn quên định danh?


Bạn quên mật khẩu?
Đổi mật khẩu

Bằng việc nhấn Gửi, bạn đã đồng ý với các điều khoản sử dụng developerWorks Điều khoản sử dụng.

 


Ở lần bạn đăng nhập đầu tiên vào trang developerWorks, một hồ sơ cá nhân của bạn được tạo ra. Thông tin trong bản hồ sơ này (tên bạn, nước/vùng lãnh thổ, và tên cơ quan) sẽ được trưng ra cho mọi người và sẽ đi cùng các nội dung mà bạn đăng, trừ khi bạn chọn việc ẩn tên cơ quan của bạn. Bạn có thể cập nhật tài khoản trên trang IBM bất cứ khi nào.

Thông tin gửi đi được đảm bảo an toàn.

Chọn tên hiển thị của bạn



Lần đầu tiên bạn đăng nhập vào trang developerWorks, một bản trích ngang được tạo ra cho bạn, bạn cần phải chọn một tên để hiển thị. Tên hiển thị của bạn sẽ đi kèm theo các nội dung mà bạn đăng tải trên developerWorks.

Tên hiển thị cần có từ 3 đến 30 ký tự. Tên xuất hiện của bạn phải là duy nhất trên trang Cộng đồng developerWorks và vì lí do an ninh nó không phải là địa chỉ email của bạn.

Các trường được đánh dấu hoa thị là bắt buộc (*).

(Tên hiển thị cần có từ 3 đến 30 ký tự)

Bằng việc nhấn Gửi, bạn đã đồng ý với các điều khoản sử dụng developerWorks Điều khoản sử dụng.

 


Thông tin gửi đi được đảm bảo an toàn.


static.content.url=http://www.ibm.com/developerworks/js/artrating/
SITE_ID=70
Zone=Cloud computing
ArticleID=823394
ArticleTitle=Thay đổi hành vi ứng dụng: Từ trong nhà lên đám mây
publish-date=06292012